THẦN KINH VÀ TÂM THẦN » Tìm hiểu bệnh tâm thần

BỆNH RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC


Suckhoeloisong.vn : Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hay rối loạn lưỡng cực ( RLLC ) là bệnh tinh thần kinh, được đặc trưng với những biến đổi cảm xúc có tính chất chu kỳ xen kẽ giữa hưng phấn (hưng cảm) và ức chế (trầm cảm) .Bệnh  mãn tính hay tái phát có khi bị bệnh suốt đời .Tỷ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực chiếm khoảng 1% dân số,
BỆNH RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC
            Suckhoeloisong.vn

    Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hay rối loạn lưỡng cực ( RLLC ) là bệnh tinh thần kinh, được đặc trưng với những biến đổi cảm xúc có tính chất chu kỳ xen kẽ giữa hưng phấn (hưng cảm) và ức chế (trầm cảm) .Bệnh  mãn tính hay tái phát có khi bị bệnh suốt đời .Tỷ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực chiếm khoảng 1% dân số,
    Nguyên nhân chưa rõ, nhưng các yếu tố ảnh hưởng bệnh lý là : di truyền, cơ địa, mất cân bằng nội tiết. Stress.Tuổi và giới tính liên quan đến thể loại RLLC . Có yếu tố theo mùa
    Cơ chế : có một số yếu tố trực tiếp tham gia những cơn lưỡng cực hoặc có thể kích hoạt cơn lưỡng cực , trong đó  những chất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò vô cùng quan trọng
Các mức độ và thể bệnh :Hưng cảm nhưng không có hay có triệu chứng loạn thần; Trầm cảm nhẹ hoặc vừa ; Trầm cảm nặng;  Trầm cảm không có các triệu chứng loạn thần; hỗn hợp; thuyên giảm; Rối loạn cảm xúc lưỡng cực khác.
I.LÂM SÀNG  
Rối loạn lưỡng cực I
Có chu kỳ nhanh > 4 cơn / năm. Trung bình 1 cơn / 2 tháng
1. Các triệu chứng trầm cảm: thường tái đi tái lại
    Khí  sắc trầm :  Nét mặt ủ rũ, buồn bã, đi đứng chậm chạp.
    Mất hứng thú : với cuộc sống. Do đầu óc lơ đãng, hay quên không thể tập trung vào bất cứ thứ gì, vì vậy không muốn tiếp xúc với mọi người và không quan tâm đến bất cứ việc gì , thành ra tự cô lập mình.
Trốn học, học kém, thất bại trong nghề nghiệp, li dị hoặc hành vi chống xã hội có thể gặp trong mọi gđ của rối loạn cảm xúc lưỡng cực (hưng cảm, trầm cảm, hỗn hợp.
Tự sát:  Khoảng 2/3 BN  có gđ trầm cảm hoặc hỗn hợp có ý định tự sát, và tự sát thành công chiếm 10%-15% .Cảnh báo tự sát : BN  bi quan, chán nản, khí sắc giảm, mất hết các hứng thú và sở thích. Bệnh nhân thấy mình sống rất vô nghĩa, cho rằng mình là gánh nặng cho gia đình, cơ quan và xã hội. Đa số các ca  tự sát xảy ra trong 3 -  6 tháng sau khi ra viện, đặc biệt là 3 tháng đầu. Lưu  ý  không cho BN mua nhiều thuốc chống trầm cảm ( nhất là thuốc 3 vòng), đè phòng họ tích trữ để tự tử.
   Đau đầu, mất ngủ, mệt mỏi:  không còn năng lượng , nhức mỏi cổ và vai gáy, hồi hộp ép ngực. Dù thèm ngủ nhưng rất khó ngủ, thường xuyên bị tỉnh giấc
 ( Nếu BN mất ngủ liên tục > 3 ngày, có nguy cơ cao tái phát bệnh).
   Dễ bị kích động, dễ nổi giận, cáu gắt.
   Rối loạn tâm thần vận động hiếm gặp
2. Các rối loạn cảm xúc : hoảng sợ, ám ảnh sợ xã hội, bất động  (sững sờ, uấn sáp, tạo hình), u sầu đáng kể ( nghĩa là có ảnh hưởng rõ ràng đến lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp, hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác) .
3.  Các triệu chứng loạn thần : hoang tưởng tự cao, hoang tưởng bị hại, bị theo dõi. hoang tưởng nghi bệnh, hoang tưởng tự buộc tội, ảo giác, kích động và căng trương lực
4.Triệu chứng cơ thể : mất ngủ, chán ăn, mệt mỏi, đau đầu, đau bụng, đau khớp...).
5. Các hành vi bệnh lý khác : Rối loạn tăng động/khó chú ý, nghiện rượu, nghiện ma tuý cũng không phải là hiếm gặp
6. Các yếu tố không đặc trưng (bệnh nhân ăn nhiều, tăng cân, ngủ nhiều).
Rối loạn lưỡng cực II
   - RLLC II  đặc trưng bởi một hay nhiều gđ trầm cảm chủ yếu, phối hợp với ít nhất một gđ hưng cảm nhẹ, mà không bao giờ có một gđ  hưng cảm hoặc hỗn hợp.
    -  RLLC  II  thường nặng hơn và  tiên lượng xấu hơn  RLLC  I  I  vì  RLLC  II ở các g/đ trầm cảm chủ yếu  chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực chức năng quan trọng khác của bệnh nhân. Còn các giai đoạn hưng cảm nhẹ ( cường độ yếu và thời gian ngắn) nên không phải là nguyên nhân gây ra các ảnh hưởng trong các lĩnh vực nói trên của BN. Tuổi khởi phát của RLLC  II  thường cao hơn RLLC  I  khoảng 5 năm. RLLC  II  có số lượng các chu kỳ trong toàn bộ cuộc đời BN nhiều hơn với BN RLLC  I trầm cảm chủ yếu tái phát.
II. CẬN LÂM SÀNG
C.T. Scan, MRI chụp não. giãn rộng các não thất, teo não
dịch não tủy và trong huyết tương: serotonin trong  giảm rõ rệt  
 
III.TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN RLLC II theo DSM- 5
Hiện tại (hoặc trong tiền sử) có một hay nhiều giai đoạn trầm cảm chủ yếu.
Hiện tại (hoặc trong tiền sử) có ít nhất một giai đoạn hưng cảm nhẹ.
Không bao giờ có một giai đoạn hưng cảm hoặc hỗn hợp.
Các triệu chứng là nguyên nhân gây ảnh hưởng rõ rệt trong lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực chức năng quan trọng khác.
    Sau 5 năm từ lúc khởi phát bệnh  5% - 15% sẽ có một g/đ hưng cảm hoặc hỗn hợp, là bệnh đã chuyển thành rối loạn lưỡng cực I
 
VII. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT 
1.Bệnh rối loạn trầm cảm: RLLC I thể trầm cảm chủ yếu : khác với bệnh rối loạn trầm cảm . RLLC là bệnh rất mạn tính, hay tái phát, hầu hết bị bệnh suốt đời. Chỉ có 7% số BN  có thể khỏi hoàn toàn.
2.Loạn khí sắc  chu kỳ
Trong khí sắc chu kỳ, BN có 1 số gđ  hưng cảm nhẹ và 1 số gđ  có  các triệu chứng trầm cảm , mà các triệu chứng trầm cảm này không thoả mãn các tiêu chuẩn cho gđ  trầm cảm chủ yếu. Còn RLLC II có 1  hay nhiều gđ trầm cảm chủ yếu.
3 Các rối loạn tâm thần khác: phân liệt cảm xúc, tâm thần phân liệt, rối loạn hoang tưởng. RL tâm thần không biệt định khác  hoặc RL cảm xúc  ( do dùng ma tuý , lạm dụng rượu, corticoid, thuốc chống trầm cảm….hậu quả trực tiếp của một bệnh cơ thể  vữa xơ động mạch, nhược giáp), các triệu chứng loạn thần < hoang tưởng : hoang tưởng nghi bệnh, hoang tưởng tự buộc tội,  hoang tưởng bị hại, bị theo dõi...)  ảo giác, căng trương lực, hành vi thanh xuân, ngôn ngữ thanh xuân) xuất hiện khi không còn triệu chứng rối loạn cảm xúc rõ ràng. Các triệu chứng hưng cảm và trầm cảm có thể gặp nhưng hiếm khi đủ nặng về cường độ.và đủ dài về thời gian .Ngoài ra còn căn cứ vào các triệu chứng phối hợp và sự phát triển của bệnh trước đó, tiền sử gia đình và các triệu chứng phối hợp để chẩn đoán phân biệt RLLC  với các bệnh này.

 

 



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn