CÁC CHỨNG TÊ LIỆT » Liệt hai chân

CÁC BỆNH VIÊM TUỶ NGANG TỰ MIỄN


BS  PHẠM THỊ MAI : tổn thương một đoạn tuỷ chỉ ở vùng chất trắng ( thuộc trung ương) , hoặc chỉ ở vùng chất xám ( thuộc ngoại biên) , hoặc tổn thương toàn bộ cả chất trắng và chất xám ( HC cắt ngang tuỷ) .  Phạm vi bài này chỉ bàn đến các bệnh của tuỷ, bị gây ra do hệ thống miễn dịch phá hủy myelin bao các sợi trục thần kinh trong tuỷ sống, ( có thể cả chất trắng của não ), triệu chứng lâm sàng biểu hiện mất đường dẫn truyền dưới tổn thương của tủy sống.

          CÁC BỆNH VIÊM TUỶ NGANG TỰ MIỄN 
                                BS  PHẠM THỊ MAI
         Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng


     Tổn thương một đoạn tuỷ chỉ ở vùng chất trắng ( thuộc trung ương) , hoặc chỉ ở vùng chất xám ( thuộc ngoại biên) , hoặc tổn thương toàn bộ cả chất trắng và chất xám . Khi một đoạn tuỷ bị phá huỷ toàn bộ như vậy được gọi là HC cắt ngang tuỷ.
     
      Phạm vi bài này chỉ bàn đến các bệnh của tuỷ, bị gây ra do hệ thống miễn dịch phá hủy myelin bao các sợi trục thần kinh trong tuỷ sống, ( có thể cả chất trắng của não ), triệu chứng lâm sàng biểu hiện mất đường dẫn truyền dưới tổn thương của tủy sống.

PHÂN LOẠI VIÊM TUỶ NGANG 

I. VIÊM TUỶ NGANG DO NHIỄM TRÙNG, NHIỄM ĐỘC
Xem 

VIÊM TUỶ DO NHIỄM VIRUS, VI TRÙNG, NHIỄM ĐỘC ( 05-01-2018 )

  BS  PHẠM THỊ MAI: VIÊM TUỶ DO VIRUS có đặc điểm  thường gặp ở trẻ 5-15 tuổi. Một đoạn tủy sống viêm tự miễn cấp tính, với biểu hiện liệt hai chân, mất cảm giác dưới nơi tổn thương, rối loạn cơ tròn. Virus gây bệnh là : Herpes, echo virus, zona, epstein-barr, hepatis B, Influenza, Mycopllasma pneumoniae. Tiên lượng 60% hồi phục sau 2-12 tuần. Sau 6 tháng không hồi phục là có tiên lượng xấu: khoảng 15%. 3 % chuyển thành bệnh xơ cứng rải rác



II. VIÊM TUỶ LEO CẤP
Được gọi là hội chứng Landry, ,
Lâm sàng
+ Khởi phát đột ngộ, thường tổn thương ở tủy lưng, liệt mềm 2 chân, vài ngày sau liệt lên hai tay. Mất cảm giác cũng lan dần từ chân lên bụng, ngực, lên chi trên và lên cổ. Rối loạn cơ vòng kiểu trung ương, lúc đầu thường là bí đại, tiểu tiện sau đái dầm ngắt quãng.
+Tiến triển rất nhanh ( trong hàng ngày, hàng giờ) : đau ở cổ, gáy . Liệt các cơ ở cổ, liệt dây thần kinh hoành ( khó thở), tổn thương nhân dây thần kinh IX, X, XII ( nói khó, nghẹn, sặc, mất phản xạ họng - hầu, liệt vận động lưỡi). Viêm lan lên hành não gây suy hô hấp và trụy tim mạch. Tỷ lệ tử vong cao.
- Tiên lượng
+ Nếu lúc đầu càng nặng thì tiến triển càng nhanh, tiên lượng càng xấu, bệnh nhân có thể chết trong vài ngày.
+ Nếu ban đầu nhẹ, lại được cứu chữa kịp thời, sau 10 - 15 ngày bắt đầu triệu chứng hồi phục một phần.
+ Đa số bị di chứng : bại hoặc liệt cứng hai chi dưới, chi trên có thể phục hồi tốt hơn, có thể còn di chứng liệt hai chi dưới kiểu trung ương kết hợp bại hai chi trên hoặc một chi trên kiểu ngoại vi do tổn thương ở phình cổ (biểu hiện liệt mềm, teo cơ, mất phản xạ gân xương), hiếm gặp liệt ngoại vi ở hai chi dưới (tổn thương phình thắt lưng).
+ Rối loạn cơ vòng có thể được phục hồi,
+ Rất hiếm trường hợp hồi phục hoàn toàn không để lại di chứng gì.
- Điều trị
Điều trị sớm, như viêm tủy ngang cấp

III. CÁC THỂ PHỐI HỢP

1.Xơ não - tủy rải rác:
  do thoái hoá myelin,  rải rác ở tủy sống, ( còn gặp ở ở tiểu não, các dây thần kinh sọ não). Bệnh thường xuất hiện ở tuổi thanh niên và trung niên, diễn biến có tính chất tuần tiến, từng đợt. Các thể lâm sàng rất đa dạng, thường phối hợp các hội chứng: HC tháp, HC  tiểu não, rối loạn cảm giác, rối loạn mắt và tiền đình. Có thể cả trong quá trình bệnh chỉ có triệu chứng liệt hai chi dưới

2.Bệnh Devic 
     Là thể đặc biệt của viêm tủy ngang cấp, biểu hiện của viêm kết hợp dây vận nhãn ( thoái hóa bao myelin của sợi thần kinh) với viêm tủy ngang ( bất cứ nơi nào của tủy sống, phổ biến nhất là tủy sống ngực). Thể bệnh này về lâm sàng, phát triển và điều trị tương tự như viêm tủy ngang cấp.
     Khởi phát đột ngột, giảm thị lực 1 hay 2 mắt, nặng thì mù, gai thị phù viêm. Sau 1 vài ngày đến 1 tuần có triệu chứng cắt ngang tủy sống, liệt 2 chân. rối loạn vận động và rối loạn cảm giác kiểu đường dẫn truyền, rối loạn cơ vòng. Có thể có đau đầu, rối loạn ý thức nhẹ, co giật kiểu động kinh, có khi là động kinh tủy sống (co cứng hai chi dưới, đau đớn). Dịch não tủy: đa số là bình thường, số ít có tăng albumin nhẹ.Đáp ứng với điều trị corticoid.
      Tiên lượng tương đối khả quan nếu điề trị sớm bằng corticoid. Một số để lại di chứng giảm thị lực, teo gai thị.

3.Bệnh Lupus,
 có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ thể, HC Sjogren, gây khô miệng và mắt nặng, cũng như các triệu chứng khác.

4. HC Meningomyelitis là sự phối hợp của viêm màng tuỷ và tuỷ sống.
5. Viêm não tuỷ cấp tính (Encephalomyelitis acute).
6. HC Myeloradiculiis : phối hợp viêm tuỷ với viêm dây thần kinh tuỷ sống.                                                                

IV. VIÊM TUỶ CẤP MỘT PHẦN
     Tổn thương không cắt ngang hoàn toàn tủy sống, do vậy triệu chứng lâm sàng biểu hiện mất một phần đường dẫn truyền của tủy sống.
- Tổn thương ngang 1/2 tủy sống sẽ gây hội chứng Brown - Sequard.
- Tổn thương mép xám trước ở vùng phình cổ : phân ly cảm giác (mất cảm giác đau và cảm giác nóng - lạnh, còn xúc giác và cảm giác sâu, khu trú ở hai tay và nửa trên ngực hình cánh bướm.)
                                                                    

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Chẩn đoán phân biệt viêm tuỷ ngang với các bệnh sau đây ( nhất là t
rong giai đoạn liệt mềm, dễ nhầm lẫn 

- Các bệnh lý liệt hai chi dưới ngoại vi
-Tắc động mạch tuỷ :
- U tủy:
- Chấn thương tủy sống.
-  Các bệnh lý của cột sống gây chèn ép tủy.
- Giang mai tủy sống. 

ĐIỀU TRỊ VIÊM TUỶ NGANG

THUỐC
1. Chống viêm
- Corticosteroid : methylprednisolone hoặc dexamethasone dùng sớm liều cao, đường tĩnh mạch trong 3 - 5 ngày đầu, sau đó giảm liều chỉnh liều tùy mức độ tổn thương trên phim MRI, dùng qua tĩnh mạch suốt nhiều ngày.
2. Thay huyết tương, loại bỏ các kháng thể gây phản ứng viêm tự miễn
3.Phục hồi tổn thương và chức năng - Nucleo CMP thuốc tăng cường tái tạo bao myelin - Nivalin, paralys và vitamin nhóm B liều cao : tăng cường dẫn truyền thần kinh
4.Giảm đau. acetaminophen (Tylenol…), ibuprofen (Advil, Motrin…) và naproxen (Aleve, Naprosyn….)
5. Chống trầm cảm : sertraline (Zoloft)
6. Chống co giật: gabapentin (Neurontin) hoặc pregabalin (Lyrica). Đau quá mức và co giật : gabapentin (neurontin), pregabalin (lyrica), carbamazepin (tegretol)
7.Chống co cứng cơ
8. Điê ù chỉnh rối loạn chức năng đường ruột - tiết niệu,
9. Điều trị các biến chứng khác
10. Thuốc chống đông liều nhỏ

KHÔNG DÙNG THUỐC
- Suy hô hấp: đặt ống nội khí quản, thở máy…
- Vật lý trị liệu và sử dụng các thiết bị trợ giúp, như xe lăn, gậy hoặc niềng răng, nếu cần thiết.
- Hướng dẫn tắm rửa, chuẩn bị một bữa ăn.
- Tâm lý trị liệu. Tâm lý có thể sử dụng liệu pháp nói chuyện để điều trị lo âu, trầm cảm, rối loạn chức năng tình dục, và các vấn đề về cảm xúc hoặc hành vi khác mà có thể liên quan để đối phó với bệnh viêm tủy ngang.
- Phòng, chống biến chứng viêm tắc tĩnh mạch sâu bằng tập vận động, thay đổi tư thế ( và dùng thuốc chống đông liều nhỏ như đã viết ở trên)


CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn