BỆNH TIÊU HOÁ » Bệnh Dạ Dày

CHỨC NĂNG SINH LÝ CỦA DẠ DÀY


BS Phạm Thị Mai _SKLS :   trước khi bàn đến CÁC BỆNH LÝ DẠ DÀY – HÀNH TÁ TRÀNG chúng ta ôn tập lại những vấn đề cơ bản về chức năng sinh lý của dạ dày. Trên cơ sở đó mọi người sẽ hiểu rõ hơn khi phân tích về cơ chế sinh lý bệnh của dạ dày- hành tá tràng.


CHỨC NĂNG SINH LÝ CỦA DẠ DÀY
                                             BS Phạm Thị Mai_SKLS


CHỨC NĂNG NGOẠI TIẾT VÀ NỘI TIẾT

I. DỊCH VỊ ĐƯỢC TIẾT RA THEO TỪNG KHU VỰC 

    Dịch vị  do các tuyến ở niêm mạc dạ dày bài tiết,  khoảng 2 - 2,5 lít/ 24 giờ .

1. Thân vị và bờ cong bé : Có cấu tạo phần lớn là các tế bào chính bài tiết ra men tiêu hoá và  tế bào bìa.tiết ra HCL 

2. Hang vị : có cấu tạo đặc biệt bởi các tế bào G và các tế bào nội tiết :tiết ra các hormone. Ngoài ra còn tiết ra nhiều chất nhầy, ít pepsin

3. Đáy vị  :là các tế vào viền  tiết yếu tố nội (yếu tố Castle)

4.Tâm vị và môn vị: tế bào cổ tuyến tiết chủ yếu chất nhầy và bicacbonat; Tiết ít pepcin

5. Toàn bộ niêm mạc dạ dày :  đều bài tiết HCO3-  và ít chất nhầy.

II. THÀNH PHẦN VÀ TÁC DỤNG  CỦA DỊCH VỊ 

     Dịch vị  lỏng, trong, hơi nhầy, có chứa 0,3-0,4% HCl nên rất acid ( pH 0,8-0,9), được  tiết ra 2,0-2,5 lít/ 24 giờ, chứa  98-99% nước, còn lại là các chất hữu cơ và vô cơ.

1.Các men tiêu hoá  

+ Pepsin:  pepsinogen ( men tiêu hoá protein chưa hoạt động) , trong môi trường pH < 5,1,  được hoạt hóa thành pepsin hoạt động,

+ Lipase ( men tiêu hóa lipid ) hoạt động trong môi trường acid, có tác dụng thủy phân các triglycerid đã được nhũ tương hóa sẵn trong thức ăn (triglycerid trong sữa, lòng đỏ trứng) thành glycerol và acid béo.

+ Chymosin  (rennin, presur, lab- ferment): phân giải caseinogen ( protein trong sữa) thành vón sữa casein, để  pepsin tiêu hóa. Các phần còn lại trong sữa (nhũ thanh) được đưa nhanh xuống ruột. Một lần bú sữa, trẻ có thể thu nhận một lượng sữa lớn hơn thể tích dạ dày rất nhiều..

2.Acid  chlohydric  ( HCl )

    Tế bào viền tiết ra HCl ( H+ và Cl-). Dưới tác dụng của bơm proton ( H+-K+ATPase ) H+  từ bên trong tế bào viền đi ra hoà vào dịch vị ở khoang dạ dày, K+  của dịch vị đi vào tế bào viền ( trao đổi ion). Nồng độ HCl toàn phần của dịch vị là 160 mEq %, trong đó có 40mEq ở dạng tự do. HCL có nhiều chức năng rất quan trọng :

+ Hoạt hoá pepsin và góp phần phân giải protit :  HCL hoạt hóa pepsinogen thành pepsin thể hoạt động . HCL bảo đảm pH cho pepsin xúc tác. HCL làm tan mô liên kết bao ngoài khối cơ,  để pepsin tiếp tục phân giải phần bên trong là protid.
+Thủy phân cellulose của rau củ.
+ Điều hoà bài tiết các dich ở  dạ dày, tuỵ mật và ruột
+ Kích thích nhu động dạ dày, đóng tâm vị và môn vị.
+ Sát trùng chống lên men thối ở dạ dày.

    Khi yếu tố bảo vệ ( chất nhầy)  giảm và yếu tố phân huỷ (HCL) tăng,HCl sẽ phối hợp với pepsin gây ra loét dạ dày.

3.CÁC CHẤT BẢO VỆ

+ Bicarbonat NaHCO3- và các ion  Na+, K+, Ca++, Mg++, Cl-..Đảm bảo cân bằng độ pH cho dạ dày không quá acid. NaHCO3- do các tế bào niêm mạc dạ dày bài tiết. HCO3- cùng với với chất nhầy tạo  liên kết  bảo vệ niêm mạc dạ dày. HCO3- cân bằng độ pH trong dịch vị, tránh tình trạng tăng acid quá mức.

 

+ Chất nhầy glycoprotein : được tiết ra từ các tuyến ở môn vị, tâm vị ( hầu hết) , tế bào cổ tuyến vùng thân vị và  toàn bộ tế bào niêm mạc dạ dày. Lớp màng liên kết nhầy-bicarbonat bền vững dày 1 - 1,5 mm bao phủ toàn bộ niêm mạc dạ dày. Nhờ lớp màng bảo vệ này mà  H+ từ dịch vị , không thể khuyếch  tán ngược vào trong niêm mạc dạ dày.

   Loét dạ dày xảy ra khi : Hoặc có sự tăng tiết bất thường của HCl và pepsin;  Hoặc giảm tiết chất nhầy và HCO3-; Hoặc dùng nhiều rượu, chất chua, chất cay, muối mật, các thuốc giảm đau chống viêm.. làm tổn thương lớp màng nhầy-bicarbonat. Ba nhóm  nguyên nhân trên làm  H+ và pepsin sẽ xâm nhập vào lớp niêm mạc dạ dày, gây   tổn thương loét dạ dày.

4.CÁC HORMONE VÀ SẢN PHẨM CHUYỂN HOÁ

    +Hormone gastrin, somatostatin : Dưới tác dụng kích thích của dây X hoặc của các sản phẩm tiêu hóa protid (pepxon, proteose) , hoặc  thành dạ dày tăng  trương lực đã  kích thích tế bào G hang vị tiết ra. Gastrin.  Gastrin theo máu đến vùng thân vị , kích thích các tuyến bài tiết  HCl và pepsinogen. Khi thức ăn trong vùng hang vị hoặc môi trượng dịch vị  quá acid sẽ ức chế bài tiết gastrin  theo cơ chế  feed back     +Histamin : là sản phẩm chuyển hoá của  niêm mạc dạ dày  từ   Histidin, có tác dụng kích thích các thụ thể H2 của tế bào viền (H2-recepxor) làm tăng tiết acid HCl. Thuốc ức chế H2-recepxor để làm giảm tác dụng tiết acid HCl của histamin (ví dụ:cimetidin, ranitidin, famotidin...).
    +Hormone Prostaglandin E2  (của tế bào niêm mạc dạ dày) có tác dụng ức chế  tiết  HCl và pepsin,  đồng thời kích thích tăng tiết chất nhầy. Các thuốc dẫn xuất từ prostaglandin (:cytotec),  các thuốc tăng bài tiết prostaglandin E2  (colloidal bismuth subcitrate) có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày , chống loét. Các thuốc giảm đau, chống viêm ( aspirin, voltaren, piroxicam, ibuprofen...) ức chế tổng hợp prostaglandin E2 ,gây  loét dạ dày..
    + Hormone secretin : có tác dụng  kích thích bài tiết dịch tụy.

    Ngoài ra, các hormone của các tuyến nội tiết ngoài dạ dày cũng tham gia điều tiết hoạt động chế xuất dịch vị như

* Hormone  Glucocorticoid: ( vỏ thượng thận)  : kích thích bài tiết acid HCl và pepsin đồng thời ức chế bài tiết chất nhầy. Hoặc  strees  tâm lý kéo dài ; Hoăc dùng quá liều  glucocorticoid (Dexamethazon, Prednisolon...) có thể gây ra loét dạ dày.

* Hormone Gastrin-like: Các tuyến nội tiết ở  niêm mạc tá tràng và tụy nội tiết bài tiết ra Gastrin-like: , tác dụng tương tự gastrin. Hội chứng Zollinger-Ellison : các tế bào khối u tuỵ tăng  tiết gastrin-like,  dẫn đến tăng  HCl và pepsin trong dịch vị, gây ra nhiều ổ  loét dạ dày tá tràng.

5. YẾU TỐ NỘI

    Yếu tố nội chống thiếu máu (Intrinsic factor)  do tế bào viền tiết ra. B12 ở dạ  dày tạo thành phức hợp B12- yếu tố nội. Phức hợp này dễ dàng được được hấp thu vào máu khi xuống đến hồi tràng

    Dạ dày bị cắt 2/3, teo niêm mạc dạ dày...gây thiếu yếu tố nội, bệnh nhân sẽ bị bệnh thiếu B12, thiếu máu hồng cầu to (Biermer

6. MỘT SỐ CHẤT KHÁC :

     Protein của huyết tương , đặc biệt là albumin, globulin miễn dịch,  các chất chứa nitơ... 

III. ĐIỀU HOÀ BÀI TIẾT DỊCH VỊ 

1.Sát trước bữa ăn và khi bắt đầu ăn  : ngửi, nhìn, nghe nói về thức ăn, nếm, nhai, món ưa ưa thích, thức ăn kích thích vào niêm mạc miệng…đều gây phản xạ tiết dịch vị

2.Thức ăn tới dạ dày :

+ Thức ăn kích thích các cảm thụ ở niêm mạc dạ dày, truyền tín hiệu về trung khu ăn uống ở hành não và tuỷ sống:

     -  Xung động từ hành não theo dây X đến chi phối dạ dày, gây tăng tiết dịch vị,  men và acid HCL .

     -  Xung động từ trung khu giao cảm ( Đốt lưng 4-10) theo các sợi giao cảm đi ra, kích thích dạ dày tăng tiết chất nhầy và bicarbonat.

+  Dây X và HCl kích thích dạ dày tiết ra gastrin và histamine, nhờ các 2 chất này, dạ dày bài tiết dịch vị, HCl và men tăng lên . 

+ Thần kinh phế vị tác động trực tiếp đến vùng thân vị, làm tăng tự mẫn cảm của các tế bào dạ  dày đối với gastrin; kết quả làm bài tiết dịch giàu pepsin.

+ Các đám rối Meissner ( dưới niêm mạc dạ dày).  Dưới tác dụng kích thích của thức ăn trong dạ dày hoặc từ những kích thích của thần kinh trung ương. đám rối này làm  tăng bài tiết dịch vị.

3.Thức ăn xuống tá tràng :

+  HCl và protein kích thích tá tràng tiết enterogastrin. Enterogastrin vào máu rồi quay trở lại kích thích dạ dày tiết dịch vị . Dạ dày tiết ra gastron và tá tràng tiết ra enterogastron là các hormon ức chế bài tiết dịch vị.


IV. CHỨC NĂNG CƠ HỌC CỦA DẠ DÀY

Chức năng cơ học của dạ dày là chứa đựng, nhào trộn thức ăn với dịch vị, nghiền nhỏ thức ăn và tống xuống ruột.1. 
    1.
Nhu động :

   Thức ăn vào dạ dày,  5-10 phút sau mới có nhu động dạ dày. Dạ dày nhu động theo làn sóng từ vùng tâm vị, lan theo bờ cong lớn và bờ cong nhỏ, xuống tới môn vị.  Do môn vị vẫn đóng, nên thức ăn lại quay ngược lên,  kết thúc một sóng nhu động. Rồi kế tiếp đợt song khác, cứ 10-15 giây có 1 sóng nhu động.

    Nhu động của dạ dày chịu sự tác động của hệ thần kinh;của yếu tố thể dịch và các chất  trong dạ dày. Gastrin, CCK, motiline làm tăng co bóp. Secretin, glucagon GIP, VIP, somatostatin làm giảm co bóp dạ dày.

    Dạ dày còn có khả năng co bóp tự động, nhờ có các đám rối thần kinh nằm ngay trong thành dạ dày (Meissner và auerbach).

    Thức ăn được trộn với dịch vị thành khối nhuyễn sền sệt gọi là vị trấp. Vị trấp được dồn dần xuống vùng hang-môn vị.

    2.Hoạt động đóng-mở ngắt quãng của môn vị ,

    Sự đóng mở môn vị còn chịu sự chi phối của thần kinh dạ dày, vỏ não và thần kinh-thể dịch. Căng thẳng, lo buồn làm môn vị thắt lại, hưng phấn vui vẻ làm môn vị mở nhanh. Vị trấp được tống từng đợt xuống tá tràng cho tới hết.

     3. Trương lực dạ dày:

   Sự co thường xuyên của các lớp cơ dạ dày, tạo áp lực khoảng 8-10 cm H2O . Khi dạ dày chứa đầy thức ăn , trương lực giảm đi chút ít, khi dạ dày đã vơi thức ăn, trương lực tăng lên. Trương lực cao nhất khi   khi dạ dày rỗng.

 V. CHỨC NĂNG  TIÊU HOÁ THỨC ĂN

+ Những thức ăn được dạ dày hấp thu nhanh là : nước, bia, rượu, đường đơn ( một ít) , sắt ( một phần ).. Dạ dày của nhũ nhi có thể hấp thu ngay 25% chất dinh dưỡng trong sữa mẹ.

 + Những chất khác được nghiền nhuyễn với dich vị tạo thành vị trấp. Trong vị trấp :

        10-20% protid được phân giải thành các polypeptid .

        Một phần lipid đã nhũ hoá được phân giải thành monoglycerid, và acid béo.

         Còn glucid hầu như chưa được tiêu hoá. chị bị thủy phân một phần cellulose

+ Thời gian thức ăn lưu lại ở dạ dày lâu mau tuỳ thuộc vào tính chất và số lượng của nó.
       Glucid qua dạ dày nhanh nhất, sau 2-3 giờ.
       Protid qua sau 4-5 giờ.
       Lipitd qua chậm nhất, sau 5-7 giờ.

Mời các bạn đón xem các bài CÁC BỆNH LÝ DẠ DÀY – HÀNH TÁ TRÀNG sẽ được đăng tiếp





CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn