CÁC CHỨNG TÊ LIỆT » Tai Biến Mạch Máu Não

ĐỘT QUỴ - TAI BIẾN MẠCH NÃO TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM


 Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp  BS Mai : Đột quỵ não có hai thể loại bệnh: Nhồi máu não ( do nghẽn, tắc mạch) và Chảy máu não ( do vỡ mạch). Hai bệnh này : Khác nhau về nguyên nhân, cơ chế. Giống nhau về triệu chứng: liệt nửa người, tay, chân, rối loạn ngôn ngữ, mất ý thức và có thể đi vào hôn mê… Đối nghịch nhau về cách điều trị : đặc biêt Nhồi máu não và Chảy máu não đối nghịch hoàn toàn về cách điều trị


ĐỘT QUỴ - TAI BIẾN MẠCH NÃO TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM

 Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp  BS Mai 

   I.ĐỊNH NGHĨA
   Đột quỵ não(strocke): hay còn gọi tai biến mạch máu não, là tình trạng mất đột ngột chức năng của não, tồn tại quá 24 giờ hoặc chết trước 24 giờ, do mạch máu não bị nghẽn, tắc hoặc vỡ mạch gây chảy máu não, lại trừ nguyên nhân chấn thương.
   Thiếu máu não cục bộ tạm thời: tình trạng mất đột ngột chức năng của não bộ và được phục hồi hoàn toàn trong vòng 24 giờ, không do chấn thương.
    Định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới : Đột qụy là một hội chứng lâm sàng được đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng biểu hiện tổn thương khu trú của não, tồn tại trên 24 giờ hoặc tử vong trước 24 giờ. Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn thương phân bố, loại trừ nguyên nhân chấn thương.

   II. TÌNH TÌNH ĐỘT QUỴ NÃO

    Đột quỵ  là bệnh xã hội bởi tỷ lệ mắc bệnh cao và ảnh hưởng xấu chung đến toàn xã hội.  

1.Tính xã hội :
 - Tỷ lệ mắc bệnh rất cao: theo OMS, tỷ lệ đôt quỵ chung trên thế giới hiện nay là  5-8 /1000
 -  Xu hướng ngày càng tăng : trên thế giới cứ  53 giây có 1 người bị đột quỵ, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
  -  Theo một thống kê cho biết : Việt Nam hiện mắc bệnh là  104/100000 dân Hà Nội;  105/100000 dân Huế, 157/100000 dân Hà Đông  và 409/100.000 dân TP. Hồ Chí Minh. Năm 2018 có khoảng 230.000 ca đột quỵ mới mắc
- Là bệnh của tuổi già : trên 55 tuổi có nhiều khả năng bị đột quỵ não. Sau tuổi 85, có 25 % nam, và 20% phụ nữ bị đột quỵ
  - Xu hướng ngày càng trẻ hoá : ở độ tuổi 20-30, bị tử vong do đột quỵ là tai hoạ khủng khiếp cho gia đình; nếu tàn phế thì bản thân cùng gia đình chịu hậu quả vô cùng bi đát trong thời gian rất dài.
   - Quỹ bảo hiểm xã hội bị chi phí rất lớn: tại Mỹ, tổng chi phí cho đột quỵ  năm 2008  ~ 65,5 tỷ USD

2.Rất nguy hiểm :
    Gây tử vong đứng hàng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư.
   Tử vong trong vòng 1 tháng lkhoảng 20 %,  tử vong trong vòng 1 năm khoảng  5 % – 10 % .
   Gây tàn phế, đứng hàng đầu trong tất các bệnh: 15-25% tàn phế vĩnh viễn sau dột quỵ, mọi việc ăn uống, vệ sinh, di chuyển…phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác.  

   III. CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỘT QUỴ NÃO

1.Đột quỵ não có hai thể loại bệnh
   Nhồi máu não (do thuyên tắc và tắc mạch) và Chảy máu não ( do vỡ mạch).



Hai bệnh này : 
- Khác nhau về nguyên nhân, cơ chế.
Giống nhau về triệu chứng:  bởi đều dẫn đến hậu quả khối  mô não  bị tổn thương , phần cơ thể mà khối mô não đó chi phối bị ngưng hoạt động. Biểu hiện:  liệt nửa người, tay, chân, rối loạn ngôn ngữ, mất ý thức và có thể đi vào hôn mê…
 - Đối nghịch nhau về cách điều trị : đặc biêt Nhồi máu não và Chảy máu não đối nghịch hoàn toàn về cách điều trị 
 Thể phối hợp nhồi máu não với xuất huyết não:  rất nặng và khó điều trị
2. Xuất hiện đột ngột và diễn tiến rất nhanh: hầu hết các ca đọt quỵ  rất ít hay không có triệu chứng báo trước, diễn tiến tiến chỉ trong vài giờ (hoặc vài ngày). Tùy thuộc vào vị trí, thể tích khối mô não bị tổn thương và mức độ tổn thương ( nặng nhẹ ) mà bệnh biểu hiện các triệu chứng có khác nhau và mức độ nặng nhẹ cũng khác nhau. Tình trạng bệnh có thể nặng lên rất nhanh trong 24 giờ đầu : khu vực mô não bị tổn thương càng lúc càng bị chết nhiều tế bào, ngoài ra tổn thương cũng lan rộng ra xung quanh các mô lành
3. Thể không có triệu chứng : hẹp nặng động mạch cảnh nhưng không có triệu chứng do thuần hoàn bàng hệ bù tốt. Chỉ tình cờ phát hiện khi chụp CT, MRI hoặc vỡ mạch đột ngột thì BN lâm vào tình trạng nguy kịch ngay
4. Thể thiếu máu não thoáng qua -TIA 
    TIA có các triệu chứng đột quỵ nhẹ  nhưng kéo dài không quá 1h và hồi phục hoàn toàn. Phần lớn TIA kéo dài 15-30 phút.
    TIA là dấu hiệu cảnh báo quan trọng của đột quỵ não : 40 % người đã bị TIA, sau này sẽ đột quỵ. Trong số người bệnh đột quy , khai thác tiền sử thấy tỷ lệ số người chưa tựng bị TIA và số người đã từng bị TIA .là 1/10, Vì vậy TIA cân được quan tâm theo dõi và điều trị bởi bác sỹ chuyên khoa.
5. Đột quỵ là tình trạng não lâm nguy tối cấp  
    Các tế bào não dự trữ lượng glucose đủ dùng trong 2 phút, oxy thì không có dự trữ. Vì vậy khi não đột quỵ, tế bào não bị chết rất nhanh, mỗi phút có 2 triệu tế bào não bị chết không hổi phục. Đột quỵ nhồi máu não: có hai vùng tổn thương : Vùng hoại tử ở trung tâm, tế bào không có khả năng hồi phục. Vùng thiếu máu tranh tối tranh sáng (penumbra), nếu được cung cấp máu kịp thời , vẫn có khả năng hồi phục. Đó là lý do đột quỵ cần được cấp cứu khẩn trương, càng sớm càng tốt, không để quá 6 giờ. Nếu sau 6 giờ thì các phương pháp điều trị tái thông mạch máu ( do nhồi máu nghẽn mạch lớn) sẽ không còn hiệu quả.
6.Hậu quả đột quỵ rất nặng nề
    Sau đột quỵ não, có 27-40,4% số BN mất trí nhớ;  50% số BN liệt nửa người và rối loạn cơ tròn ( đại tiểu tiện không tự chủ ) ; 1/5 số BN bị mất tiếng nói và hầu hết bị trầm cảm ( thống kê của. Bệnh viện Chợ Rẫy, Nguyễn Tri Phương và Thống Nhất TP HCM)
7. Nguy cơ đột quỵ tái phát rất cao
- Nguy cơ cao nhất là trong vòng vài tháng đầu tiên.
- Trong năm đầu tiên là  3% - 23% ; trong 5 năm sau 10% đến 53% và cơn đột quỵ sau thường để lại di chứng nặng nề, chi phí điều trị cao hơn rất nhiều so với lần trước ( theo cá nghiên cứu thống kê  trên thế giới).
     TIA : nguy cơ bị đột quỵ lớn đặc biệt trong 2 ngày và rất cao trong tháng. Trong năm đầu có tỷ lệ  30 % bị đột quỵ. Các BN này cần kiểm soát các  yếu tố nguy cơ đột quỵ, dùng thuốc kê đơn của bác sĩ  ( như aspirin )

IV. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ SINH LÝ BỆNH

1.Nhồi máu não ( nhũn não, nhuyễn não)

  Các thuật ngữ sau đây có ý nghĩa tương đương Đột qụy thiếu máu  (ischemic stroke). Nhồi máu não (cerebral infarction).Nhũn não hay nhuyễn não  encephalomalacia hay ramollissenment cerebral). Có 2 cơ chế nhồi máu

    * Do  thuyên tắc  (Embolism ) : là tình trạng cục máu đông, mà cục này được hình thành trong lòng mạch bất cứ nơi đâu trong cơ thể . Cục máu đông theo dòng máu lên não. Khi di chuyển đến chỗ khẩu kính động mạnh não nhỏ hơn kích thước cục máu đông, nó dừng lại và gây thuyên tắc mạch.       
    ( Cơ chế  hinh thành cục máu đông còn gọi là huyết khối - Thrombose :  (1) bệnh vữa xơ ĐM, thành mạch bị đọng các chất vữa xơ chủ yếu là mỡ, canxi .... Phản ứng viêm và quá  trình đọng vữa xơ thêm làm thành mạch nơi vữa xơ dày thêm lên. Đến một thời điểm nào đó các màng xơ vữa nứt ra, thành mạch bị tổn thương chảy máu, tiểu cầu tập trung số lượng lớn bám vào mảng xơ vữa đó, chúng được liên kêt chặt chẽ với nhau bởi các sợi fibrin tạo nên cục máu đông, hay huyết khối . (2)  Cũng có thể mảng xơ vữa bong ra trôi vào dòng máu, hay một mảnh nội tâm mạc, van 2 lá viêm bị bon ra,  rồi từ nhân vữa xơ đó, tiểu cầu phóng thích các chất hóa học để thu hút các tiểu cầu khác tạo thành huyết khối.) 
     Cần phân biệt huyết khối (Thrombose)  trong lòng mạch nói trên với khối tụ máu (hematoma) do do vỡ mạch máu tràn ra ngoài mạch tạo nên. 
    Nhồi máu não: 75 – 85% trong các ca đột quỵ. Trong đó :
+ Thuyên tắc và tắc mạch : chiếm ~ 60 – 70% : Do cục huyết khổi từ vữa xơ ĐM cảnh, ĐM sống - nền đoạn ngoài sọ : chiếm 45%. Tắc mạch máu lớn trong sọ chiếm 5%.  Huyết khối các động mạch cỡ trung bình chiếm ~ 10 %. 
+ Nhồi máu ổ khuyết :
  do giảm lưu lượng tuần hoàn,  chủ yếu tại các mạch máu nhỏ trong não chiếm 15 – 25%)      
 + Huyết khối tĩnh mạch và xoang tĩnh mạch :  chỉ chiếm 1% . 

  * Do tắc mạch  giảm tưới máu (Hypoperfusion): , rối loạn huyết động 
 
 Hạ huyết áp đột ngột :  khi đó vùng giáp ranh giữa các vùng phân bố máu của các ĐM lớn giảm lưu lượng máu, làm cho các ĐM xuyên, sâu và nhỏ bị tắc, gây nhồi máu vùng giáp ranh hay còn gọi nhồi máu giao thuỷ (watershed infarction). Nhất  là mạng mạch nối giữa ngành ĐM não trong ( trung tâm ) và ngành ĐM não ngoài, tại giao thuỷ của các mạch xuyên, tổn thương hình thái là là Đột quỵ lỗ khuyết (Lacunar). chiếm 15 - 25 % trong các thể nhồi máu não.
-  
Rung nhĩ. suy tim :  gây rối loạn huyết động. Nhịp tim đập không đều và bơm máu một cách hỗn loạn và : thường phối hợp với các nguyên nhân khác làm cơ đột quỵ dễ khởi phát 



2.Xuất huyết não
    Xuất huyết não ít hơn so với nhồi máu não, chiếm 15 – 20% trong các ca đột quỵ não. Trong đó chảy máu não 10 – 15%, chảy máu dưới nhện khoảng 5%
    Xuất huyết não thường nặng hơn so với nhồi máu não. Xảy ra do một mạch máu não bị vỡ, máu tràn lan toả vào nhu mô não, gây tổn thương cho các tế bào não. Sau đó tạo khối máu tụ (hematoma) gây choán chỗ, ép mô não, tăng áp lực sọ não, ảnh hưởng lên sự tưới máu động mạch và dẫn lưu tĩnh mạch. Các chất co mạch và độc tế bào từ máu bị tràn ra ban đầu và tiếp theo là máu thoát mạch nơi vùng lân cận khối máu tụ cùng với dòng thác các kích hoạt do thiếu máu làm nặng thêm sự phá hủy nhu mô não góp phần làm tăng tỉ lệ tử vong và tàn phế của xuất huyết não. Nguyên nhân :
 - Tăng huyết áp, phình mạch não. Phối hợp tăng huyết áp , phình mạch não gây vỡ phình  là nguyên nhân đứng đầu trong các nguyên nhân xuất huyết não.ngành sâu, các nhánh tận của động mạch não không nối thông với nhau và phải chịu áp lực cao, vì vậy khi chảy máu do tăng huyết áp thường ở vị trí sâu và nặng.
- Các dị dạng mạch máu não bẩm sinh :
   Dị dạng động tĩnh mạch AVM  (Arteriovenous Malformation) là một dạng bất thường bẩm sinh có hệ thống mao mạch chyển tiếp giữa động – tĩnh mạch, ở não hoặc tủy sống.Thường gặp ở lứa tuổi 20-40. Ước tính ở Mỹ có 10000-12000 ca mới được chẩn đoán hàng năm
   Túi phình động mạch (Aneurysms ) bẩm sinh cũng thường gặp.
 - Các bệnh lý về đông máu : hoặc bệnh nhân đang điều trị điều trị thuốc tan huyết khối, thuốc chống đông, chiếm <5% trong các ca xuất huyết não
-  Nghiện rượu và nghiện các thuốc giống giao cảm.

3. Huyết khối tĩnh mạch não 

     - Nguyên nhân : 
(1) Do nhiễm trùng: các xoang, tai, mắt, mũi, hoặc da lan  lên xoang hang. (2) Không do nhiễm trùng: chu sinh sản giật, mang thai, thuốc ngừa thai; Bệnh máu:  rối loạn đông di truyền ( Huyết khối xoang tĩnh mạch não ở trẻ em) và mắc phải; rối loạn tăng sinh tủy; Các khối u, ung thư, bệnh tạo keo, HC kháng phospholipid; Chấn thương đầu, chọc dò tủy sống; Tình trạng mất nước; (3) Chưa rõ nguyên nhân: ~ 20-35%
     -  Cơ chế của đột quỵ não chung: 
tổn thương não khu trú do thuyết khối làm thiếu máu /nhồi máu não hoặc chảy máu não. Tắc tĩnh mạch dẫn lưu làm tăng áp lực sọ não

 V.CÁC NGUYÊN NHÂN YẾU TỐ NGUY CƠ CHUNG GÂY ĐỘT QUỴ 

Các yếu tố nguy co được tìm thấy trong 90% các trường hợp đột quỵ, được xếp thứ tự từ cao đến thấp hơn, như sau :
1. Các bệnh mạch máu 
- Bệnh xơ vữa động mạch :
 mức cholesterol toàn phần trong máu ≥240 mg/dL sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ. Viêm tắc tĩnh mạch, thuyên tắc xoang tĩnh mạch
- Đái tháo đường: glucose là hư hỏng tất cả các mạch máu trong cơ thể trong đó có mạch máu não. Bệnh tiểu đường có nguy cơ mắc đột qụy cao gấp 2,5 – 4 lần nhóm người có đường máu bình thường.
-  Cao huyết áp, hút thuốc lá và uống nhiều rượu :
    Tăng huyết áp mạn tính: làm tăng sinh tế bào cơ trơn, dày lớp áo giữa động mạch, làm hẹp lòng động mạch, giảm khả năng tạo tuần hoàn bên tạo tiền đề cho sự thiếu máu ở đoạn động mạch ngoại vi ổ tắc. Ngoài ra, tăng huyết áp còn có tác dụng thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch
    Có thói quen ăn mặn, hút thuốc lá, uống nhiều rượu, stress và trầm cảm, thiếu luyện tập… . Hút thuốc lá làm tăng gấp ba nguy cơ đột quỵ so với người không hút thuốc. .. Thường xuyên uống nhiều rượu  làm tăng huyết áp và uống rượu đột ngột quá mức có thể khiến cho mạch máu trong não bị vỡ.
- Dị dạng mạch máu não bẩm sinh : thường gây đột quỵ sớm ở nhóm tuổi còn trẻ 
-Chứng co thắt mạch não (vasoconstriction).

2. Do tuổi tác 
:Sau tuổi 85, có 25 % nam, và 20% phụ nữ bị đột quỵ
- Vê giải phẫu bệnh : hệ mạch má toàn thân và hệ mạch não bị lão hoá cùng với các bệnh lý gây hư hỏng mạch nặng thêm như  cao huyết ap, vữa xơ động mạch,  tiểu đường...
- Về sinh lý bệnh: Từ lứa tuổi 55  trở đi, lưu lượng tuần hoàn não giảm xuống nhanh chóng, gây ra tình trạng thiếu năng tuần hoàn não . là yếu tố nguy cơ thúc đẩy gây bệnh đột quỵ nhũn não nếu có nguyên nhân chính 

3.Bệnh lý tim
: chiếm 20% trong các ca đột quỵ nhồi máu cơ tim,
- Rung nhĩ; Bệnh mạch vành, dị dạng mạch vành, nhồi máu cơ tim
- Bệnh van tim bẩm sinh, hẹp lá do thấp, sa van 2 lá, viêm nội tâm mạc.
- Suy tim: nhất là suy thất trái, huyết khối buồng thất
- Tổn thương nhĩ trái: u nhầy, dòng chảy xoáy, huyết khối, …
- Các can thiệp tim : thông tim, phẫu thuật bắc cầu vành, ghép tim…

4. Bệnh máu :
 hồng cầu lưỡi liềm, đông máu rải rác lòng mạch, bệnh bạch cầu, tăng độ nhớt của máu, tăng thể tích hồng cầu

5. Yếu tố stress : Chuyển đổi  đột ngột sang nơi làm việc không phù hợp với sức khoẻ, không phù hợp trình độ, hoặc bất đồng, mâu thuẫn với những người xung quanh - hoặc lên cơ giận dữ thái quá 

6.  Môi trường tự nhiên:  tắm lạnh ban đêm, ra gió khi trời trở gió, thay đổi áp suất khí quyển đột ngột ( trên máy bay), ảnh hưởng của  bức xạ mặt trời.( vào mùa hè , ra nắng lúc giữa trưa ). Thay đổi tư thế quá đột ngội : đang nằm đứng dậy rất vôi ...

7. Các yếu tố khác
- Nhiễm khuẩn, khối phát triển nội sọ, ngộ độc CO, nhiễm độc chì mạn tính, chế độ dinh dưỡng kém, dùng thuốc tránh thai
- Giới: nam cao hơn nữ, dao động từ 1,6/1 đến 2/1. 
 -Chủng tộc có tỷ lệ mắc bệnh :  người da đen cao nhất, người da vàng thấp hơn, người da trắng thấp nhất .
- Di truyền: bệnh nhồi máu dưới vỏ và bệnh chất trắng não do bất thương ĐM não di truyền trội theo nhiễm sắc thể thường,

Trên thực tế các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ thường phối hợp nhau để gây bệnh đột quỵ trên mộ bệnh nhân 

 Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp  BS Mai 

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ  CÁC DI CHỨNG LIỆT  : 



BÀI TIẾP THEO : XỬ LÝ CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ ĐỘT QUỴ 



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn