THẦN KINH VÀ TÂM THẦN » Can và chữa bệnh can

GAN VÀ TẠNG CAN - CHỨC NĂNG SINH LÝ, BỆNH LÝ


BS PHẠM THỊ MAI : Toàn bộ hoạt động của các tế bào, các hệ cơ quan trong cơ thể, thậm chí sinh mạng con người đều chịu ảnh hưởng của gan. Theo y học hiện đại, gan có vai trò rất quan trọng trong cơ thể và nó đảm nhiệm nhiều chức năng tinh vi và phức tạp. Theo Đông y Can điều tiết được khí vô hình trong toàn bộ các tổ chức, kinh mạch, tạng phủ khác của cơ thể. Can hoá sinh được vật chất  và huyết hữu hình


GAN VÀ TẠNG CAN – SINH LÝ, BỆNH LÝ  

                     BS  PHẠM THỊ MAI
   Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng

    Theo học thuyết Tạng Tượng, can có 2 phần, phần tạng nhìn thấy được là gan; phần tượng vô hình, không nhìn thấy được là can khí, chức năng, sinh lực hoạt đông của tạng can. Sự vô hình này bao hàm hoạt động của can khí trong chính can và toàn bộ các tổ chức, kinh mạch, tạng phủ khác của cơ thể
     Theo học thuyết Kinh Dịch, Hậu thiên Bát quái can thuộc qué chấn ☳, sấm, lôi hoả, Sấm là dấu hiệu khơi dậy, báo mùa đông đi qua, mùa xuân tới, vạn vật hồi sinh, sức sống mới bắt đầu trỗi dậy, cây cỏ bắt đầu xanh tươi. Theo y học hiện đại, gan có vai trò rất quan trọng trong cơ thể và nó đảm nhiệm nhiều chức năng tinh vi và phức tạp.

I.CAN CHỦ SƠ TIÊT – ĐIỀU TIẾT KHÍ VÔ HÌNH – CAN LÀ GỐC CỦA SỰ BẠI CỰC

     Sơ tiết là gì ? Sơ là thăng phát, tiết là thấu tiết, có nghĩa chung là điều tiêt. Can điều tiết được khí vô hình trong chính can và toàn bộ các tổ chức, kinh mạch, tạng phủ khác của cơ thể. Toàn bộ hoạt động của các tế bào, các hệ cơ quan trong cơ thể, thậm chí sinh mạng con người đều chịu ảnh hưởng của gan.
      Can giảm hay mất sơ tiết ,thì tương ứng với tình trạng suy gan trong Y học hiện đại. Điều đó  ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của toàn bộ cơ thể

* SUY CHỨC NĂNG CHỐNG ĐỘC

    Suy chức năng chống độc, các chất độc hay vi sinh gây bệnh mà gan không trung hoà, đào thải hay thực bào được. Gan điều hoà ổn định đường máu .Chuyển hóa gluxit không hoàn toàn, đã ảnh hưởng tới chuyển hóa các chất khác (giảm tổng hợp protein, lipit và ure…), do đó trong giai đoạn cuối của suy gan thường phát sinh nhiễm độc axit. Trên lâm sàng , Tây y  thường gặp các hội chứng sau             

      1 Hôn mê gan
      Gan bị nhiễmđộc nặng. Thường hay gặp nhất là hôn mê gan do não nhiễm độc NH3, nguy cơ tử vong cao. Nhiễm độc do rối loạn chuyển hoá protein . với dấu hiệu tăng acid amin và đa peptit trong máu, dịch não tủy gây HC màng não.

      2.Nhiễm độc thần kinh, suy thận
       Nhiễm độc thần kinh các sản phẩm của sinh hoá bệnh gây ra, biểu hiện chân tay run rẩy, phản xạ tăng, trí khôn giảm, mơ màng, nói lắp bắp, co giật và cuối cùng là mê hẳn.
      Tăng octopamin ( phenylalanin và tyrosil khong được đào thải, hóa thành ). Octopamin tăng, còn dopamin và noradrenalin giảm ở não, sẽ mất ý thức, run tay lẩy bẩy. Nếu tích lũy ở mô thần kinh ngoại vi, nó thay thế  adrrenalin, gây giảm trương lực động mạch nhỏ, mở các mạch tắt ngoại vi bớt máu cho nội tạng, tạo nên hội chứng suy thận ở bệnh nhân suy gan.

* SUY CHỨC NĂNG CÂN BẰNG NƯỚC VÀ ĐIỆN GIẢI
    - Phù do giảm áp lực keo do gan xơ, tăng huyết áp gánh, phù thêm nặng và cổ trướng.
    - Phù còn do các hocmon  ADH Aldosteron ( tái hấp thu nước và Na ở thận) , Oestrogen (giữ nước trong khoảng gian bào), không được phân hủy tại gan tích lại, góp phần gây ra phù và tràn dịch.
    - Phù tổ chức, đặc biệt là phù não, do rối loạn chuyển hóa nước điện giải, đưa người bệnh vào tình thế ngày càng nặng thêm 

II.CAN HOÁ SINH VẬT CHẤT VÀ HUYẾT HỮU HÌNH

 *CHỨC NĂNG TIÊU HOÁ VÀ CHUYỂN HOÁ CHẤT
    Toàn bộ dưỡng chấp từ ống tiêu hoá được chuyển về gan để xử lý tiếp. Tất cả các quá trình tổng hợp, giáng hoá gluccit, protid, lipit diễn ra trong gan. Gan còn tạo dịch mật giúp cho sự tiêu hóa thức ăn. Đông y thường gặp các bệnh sau   
    1.Hư lao : do thiếu chất gây ra bởi bệnh lý nào đó của gan. Trong suy gan, hay gặp nhất  phù thiểu dưỡng với nồng độ albumin máu giảm nhiều.
    2.Bệnh hoàng đảm do rối loạn chức năng tạo mật hay tiết mật

*CAN SINH HUYẾT
    Tâm chủ huyết mạch, nhưng can sinh huyết. Tâm chủ huyết mạch là hoạt động của hệ tuần hoàn đưa máu nuôi dưỡng toàn thân. Gan can sinh huyết, thực chất  là can cung cấp đầy đủ các chất để cho tuỷ tạo máu.
     Gan  sản xuất globin, các lipoprotein, phospholid; dự trữ một lượng lớn vitamin B12, acid folic và sắt dưới dạng ferritin cung cấp cho tuỷ xương tạo hồng cầu .Trong bệnh suy gan, bệnh nhân bị thiếu protein, thiếu sát, thiếu vitamin B12, nên  phát sinh thiếu máu nhược sắc.
    Đông y thường gặp ba hội chứng sau   
    1.Can huyết hư: thì mặt vàng môi nhạt, móng không tươi, chóng mặt, tóc rụng, tay chân tê, gân thịt máu dật, gầy rộc, chất lưỡi nhợt, mạch tế.
    2. Can huyết không đủ lên Bách hôi thấy đau đầu, chóng mặt, chân tay tê, co quắp, 
    3. Thiếu huyết nhâm mạch, gây thiểu kinh, vô kinh.

*RỐI LOAN CHỨC NĂNG ĐÔNG MÁU
      Gan dự trữ vitamin K và sản xuất ra heparin và nhiều yếu tố đông máu. Suy gan thường bị rối loạn đông máu, gây xuất huyết do thiếu các yếu tố đông máu. Làm cho người bệnh xơ gan cổ trướng nặng đứng trước tình trạng bị cấp cứu xuất huyết ồ ạt tại thực quản, trực tràng …

*CAN CHỦ CÂN
      Can chủ cân, tinh ba của nó thể hiện ở móng tay, móng chân nhuận, cứng, đỏ, đẹp:
     -Can huyết không đủ, không nuôi dưỡng được cân thì đau gân, co duỗi khó khăn, cơ co quắp, khớp cứng.
     -Can khí, Can huyết không đầy đủ thời móng tay, móng chân khô, mềm yếu, dễ gãy 

III. LIÊN QUAN CỦA CAN

*LIÊN  QUAN VỚI TÂM THẦN - CAN CHỦ THẦN CHÍ
     - Tâm nơi chứa thần, biểu hiện con người có thần hay mất thần – sống hay sắp chết, thông minh hay ngu muội, thể hiện qua ánh mắt, lời nói, cử chỉ, thái độ giao tiếp. Can chủ việc điều tiết thăng bằng thần kinh, giữ cho  tinh thần, thần chí, tình cảm không để quá căng thẳng, quá lo, quá buồn. quá giận .Can khí đầy đủ thì suy nghĩ chín chắn, phán đoán sự việc chính xác,  đề xuất ra mưu trí, sách lược chuẩn. Đông y thường gặp ba hội chứng sau   
     1. Can tâm hoả vượng: đầu choáng, mặt nóng, mắt đỏ, miệng khô đắng.
     2. Can khí kém,  khó tập trung suy nghĩ, phán đoán thiếu chính xác,  ưu tư, nói nhỏ , không muốn nói. 
     3.Can khí uất hay giận dữ , dễ cáu gắt. Nặng nữa thì nhiễu loạn thì la hét, quát tháo , chửi mắng to tiếng..
     4. Nộ khí thương can: trạng thái giận dữ, căng thẳng  làm hại đến công năng hoạt động của Can.
     5. Can khí rối loạn : trầm cảm,  hồn không tàng thì mất ngủ, hay mê, dễ kinh sợ. 

 *LIÊN QUAN VỚI THẦN KINH VẬN ĐỘNG
    Chức năng này chi phối toàn bộ hệ vận động của cơ thể, có liên quan đến chức năng của thần kinh, cơ cũng như phản xạ tủy sống.
       -  Can khí thực thì sinh chứng có giật, động kinh.
        - Can dương cang lên, nhiệt nhiều huyết hư thì có thể sinh phong, xuất hiện chứng chóng mặt chân tay tê, co giật, lưỡi run

*LIÊN QUAN VỚI TÂM VÀ PHẾ TRONG CHỨC NĂNG CAN CHỦ TÀNG HUYẾT
    Tàng huyết nghĩa là tàng trữ và điều tiết lượng huyết trong cơ thể. Theo y học hiện đại gan có vai trò rất quan trọng đối với máu và hệ tuần hoàn. Bình thường gan chứa  500ml – 700 ml máu. Gan dự trữ máu và tham gia vào vòng tuần hoàn lớn. Khi cơ thể hoạt động một lượng máu từ gan vào hệ tuần hoàn. Khi nghỉ ngơi máu trở lại gan một phần .Suy tim, lượng máu ứ ở gan tới 2 lít máu. Gan to ra, xuống tới dưới rốn. Khi tim đỡ suy do được điều trị, gan sẽ nhỏ lại. Khi suy tim tiến triển tái phát, gan ứ máu to lại, được gọi là “gan đàn xếp”. Cho gan xơ to luôn không co giãn được,  là giai đoạn xơ gan cổ trướng mất bù . Thêm nữa là tình trạng thiếu oxy kéo dài dẫn tới hoại tử nhu mô gan, xơ gan, thoái hóa mỡ gan.
        Đông y thường gặp ba hội chứng sau   
        1. Hiếp thống do can huyết ứ
        2. Cổ trướng 
        3.Can huyết nhiễu tâm , Khi đi ngủ mà huyết dịch không lại trở về Can tạng sẽ gây ra Khó dỗ giấc ngủ, ngủ không yên, hay giật mình trong giấc ngủ

*LIÊN QUAN THEO QUY LUẬT NGŨ HÀNH

      1. 
Can điều khí cho tỳ vị  
     Theo quy luật tương khắc chế ước không để hoạt động thái quá của tỳ vị   Nếu can khí uất kết hay can khí vượng, hoành nghịch lên thì khắc chế tỳ vị quá mức , gây tương thừa . Biểu hiện hội chứng  can tỳ bất hoà, can vị bất hoà. Có sựthăng giáng khí của tỳ vị bất thường. Trên lâm sàng gặp các chứng đau dạ dày, đau đại tràng do thần kinh
     Can khí hư thì mộc không sợ thổ, xuất hiện triệu chứng của tỳ vị, không muốn ăn bụng chướng.
     2.Thủy hàm dưỡng Can Mộc
    Theo quy luật tương sinh : thận tàng tin, chủ tủy là cơ sở để sinh ra huyết.Trong quan hệ ngũ hành, thận thuộc thuỷ nên sinh can, can thuộc mộc. Nếu thuỷ không sinh mộc , do thuỷ hư, thì trước có chứng thận âm hư rồi  sau đó xuất hiện chứng can âm hư.
     3. Phế Can tương khắc: để cân bằng trong ngũ hành Can tàng Huyết, Phế chủ Khí để vận hành Huyết.
     4. Phế liên quan đến can
     Theo quy luật tương thừa,  phế khắc can thái quá, trước thấy bệnh của phế, sau thấy chứng trạng của can.
     Theo quy luật tương vũ,  khi can hoả vượng phản lại phế, xuất hiện chứng mặt, mắt sườn đau, ho khan ít đàm, thậm chí khạc máu. 

*LIÊN QUAN THEO HỆ THỐNG KINH MẠCH

     1.Can biểu lý với đởm:  Bệnh chứng của Phủ Đởm do nội nhân hoặc do nguyên nhân khác thường thấy do Can âm hư. Chức năng Can chủ sơ tiết bị ảnh hưởng do đó tình chí không thoải mái, dễ kinh sợ. Đồng thời, Đởm cũng bị ảnh hưởng theo, Đởm khí hư sinh ra chứng nghi ngờ, dễ lo lắng. Đây cũng là những triệu chứng thường gặp trong Đởm khí bất túc hay Đởm hư. Can tinh lọc tạo thành đởm chấp - mật chứa trong túi mật.

     -  Đởm khí hư thì đởm khiếp, hay sợ, dễ kinh, nằm không yên.
     - Đởm hoả nghịch thì đầu chướng, mắt đỏ, họng khô, miệng đắng, hoàng đản, mộng tình . Hoả suy thì nuốt chua, nôn mửa lợm giọng.
     - Đởm chứng về bán biểu, bán lý:trong thương hàn bị nóng rét qua lại
      - Kinh đởm có bệnh thì 2 tai nóng, điếc đột ngột, đau 1 bên đầu, đau sườn.

     2.Can khai khiếu ra mắt
      Can khoẻ thì mắt sáng. Can hư thì thị lực giảm, quáng gà, mắt khô. Can hỏa bốc lên thì đỏ mắt.. Can hoả thì mắt đỏ sưng, chảy nước mắt

     3.Vùng cơ thể có liên quan đến tạng Can:  Đường kinh Túc quyết âm can đi qua âm bộ, đến bụng dưới, phân bố ở hai bên sườn, lên đỉnh đầu.Vì vậy thường gặp đau các bộ vị mà kinh can đi qua  
      - Đau ở đỉnh đầu, bênh tràng nhạc ở cổ, đau sưng nách, đau ngực sườn,
      -  Bộ phận sinh dục, nam sa hòn dái, hòn dái sưng đau.
       - Mạch xung, mạch nhâm lệ  thuộc ở can: Mạch xung là huyết hải, mạch nhâm chủ về bào thai. Can lại là tiên thiên của nữ giới, cho nên hệ thống sinh dục của nữ giới có bệnh thì phần nhiều thuộc về can như đau bụng kinh, bế kinh, vô sinh.

                                                                           BS  PHẠM THỊ MAI
                                                        Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn