HUYỆT CHÂM CỨU » Học thuyết kinh lạc

HỌC THUYẾT KINH LẠC


Suckhoeloisong.vn : Mười hai kinh chính gồm : Thủ thái ấm phế, Thủ thiếu âm tâm, Thủ quyết âm tâm bào lạc, Thủ thái dương tiểu trưởng, Thủ thiếu dương tam tiêu, Thủ dương minh đại trường, Túc thái âm tỳ, Túc thiếu âm thận, Túc quyết âm can, Túc thái dương bàng quang, Túc thiếu dương đởm, Túc dương minh vị. Hai mạch quan trọng trong bát mạch kỳ kinh là mạch Nhâm và mạch Đốc 

HỌC THUYẾT KINH LẠC
                      BS Phạm thị Mai - tổng hợp

I.ĐẠI CƯƠNG 
Học thuyết Kinh lạc, cũng như những học thuyết Âm- Dương, Ngũ hành, Tạng phủ, Dinh, Vệ, Khí, Huyết... là một trong những học thuyết cơ bản của y học cổ truyền. Hệ thống kinh lạc trong cơ thể người gồm 12 kinh chính và 8 mạch kỳ kinh. Kinh là đường thẳng, là cái khung của hệ kinh lạc và đi ở sâu. Lạc là đường ngang, là cái lưới, từ kinh ngạc chia ra như mạng lưới đến khắp mọi nơi và đi ở nông. Kinh lạc phân bố ra toàn thân, là con đường vận hành của âm dương, khí huyết, tân dịch, khiến cho con người từ ngũ tạng, lục phủ, cân, mạch, cơ nhục, xương…kết thành một chỉnh thể thống nhất.

II.CHỨC NĂNG SINH LÝ CỦA
HỆ KINH LẠC
Kinh lạc là nơi tuần hoàn không ngừng của khí huyết để nuôi dưỡng toàn thân, duy trì hoạt động sống bình thường của cơ thể. Bên trong thì nuôi dưỡng tạng phủ, ngoài thì nuôi dưỡng chân tay xương khớp, làm cơ thể thành một khối thống nhất. Kinh khí và kinh huyết Ngoài tác dụng chung còn mang tính chất của đường kinh mà nó cư trú.

III.BIẾN ĐỔI BÊNH LÝ CỦA HỆ KINH LẠC
- Khi công năng hoạt động của hệ kinh lạc bị trở ngại, gây kinh khí không thông suốt thì dễ bị ngoại tà xâm nhập và gây bệnh. Tà khí từ bì phu chuyển vào lục phủ ngũ tạng , và phản ánh  bệnh tật, rõ nhất là trong bệnh thương hàn lục kính.
- Khi tạng phủ tổn thương hay công năng bị rối loạn thường có những biểu hiện bệnh lý ở đường kinh mạch đi qua. Hoặc kinh mach tương ứng của nó, hoặc kinh huyệt liên quan sẽ có biểu hiện triệu chứng.  

IV.ỨNG DỤNG
 - Trong chẩn đoán: do kinh lạc có đường tuần hành và lạc thuộc tạng phủ, nên nó phản ánh được chứng trạng của tạng phủ bị bệnh. Ngoài ra trên thực tế lâm sàng phát hiện trên đường kinh mạch hoặc một vài vị trí huyệt có điểm đau hoặc có điểm mẫn cảm nào đó, cũng giúp cho chẩn đoán. Hệ kinh lạc giúp người thầy thuốc xác định được vị trí bệnh, phân biệt được trạng thái hư thực của bệnh. Thực tế lâm sàng, nó còn có vai trò dự đoán các biến chứng có thể xảy ra 
 - Trong điều trị:Thông qua xoa bóp, châm cứu để điều chỉnh công năng hoạt động của khí huyết. Thuốc YHCT thông qua sự truyền dẫn của kinh lạc mới đến được tạng phủ bị bệnh, theo nguyên lý “dược vật quy kinh”.

V. CẤU TẠO CỦA HỆ KINH LẠC
1. Mười hai kinh mạch chính

    - Ba kinh âm ở tay :  Thủ thái ấm phế, Thủ thiếu âm tâm,  Thủ quyết âm tâm bào lạc
    - Ba kinh dương ở tay : Thủ thái dương tiểu trưởng, Thủ thiếu dương tam tiêu,  Thủ dương minh đại trường
    - Ba kinh âm ở chân : Túc thái âm tỳ, Túc thiếu âm thận, Túc quyết âm can
    - Ba kinh dương ở chân : Túc thái dương bàng quang, Túc thiếu dương đởm, Túc dương minh vị.
2. Tám kinh mạch phụ   

 Mạch Đốc chạy theo đường giữa sau thân. Mạch Đốc chỉ huy, cai trị tất cả các kinh dương của cơ thể
- Mạch Nhâm chạy theo đường giữa trước thân. Mạch Nhâm  trách nhiệm quản lý, hướng dẫn tất cả các kinh âm của cơ thể. 
- Mạch Xung đi theo kinh Thận bụng và ngực. Mạch Xung là giao lộ nối với những huyệt của kinh Thận vùn này. 
- Mạch Kiểu bắt nguồn từ mắt cá chân, đến chấm dứt ở khóe mắt trong. Mạch Kiểu chỉ đạo các vận động, thăng bằng, linh hoạt của. Mạch Kiểu còn duy trì hoạt động của mí mắt. 
-Mạch Âm duy có lộ trình ở phần âm của cơ thể. Mạch Âm duy nối các kinh âm với nhau. ( Duy có nghĩa là nối liền) . 
-Mạch Dương duy có lộ trình ở phần dương của cơ thể. Mạch Dương duy nối các kinh dương với nhau. 

- Mạch đới chạy vòng quanh thân, bên dưới các sườn và bọc lấy những đường kinh chính như cái đai (ngoại trừ kinh Can và kinh Bàng quang). 

Bát mạch kỳ kinh được phân thành 4 hệ thống :
         + Bốn mạch âm tạo 2 hệ thống :  Nhâm với Âm kiểu , Xung với Âm duy.            
         + Bốn mạch dương tạo 2 hệ thống: Đốc với Dương kiểu,  Đới với Dương duy 

3. Kinh biệt, kinh cân, biệt lạc, tôn lạc, phủ lạc. 
    - 12 kinh biệt đi ra từ 12 kinh chính
    - 12 kinh cân nối liền các đầu xương ở tứ chi không vào phủ phủ tạng.
    - 15 biệt lạc đi từ 14 đường kinh mạch biểu lý với nhau và một tổng lạc.
    - Tôn lạc: từ biệt lạc phân nhánh nhỏ.
    - Phù lạc: từu tôn lạc nổi ở ngoài da.  
4. Huyệt :  Gồm 319 huyệt ở đường kinh chính, 52 huyệt ở 2 đường kinh phụ cộng là 371 huyệt nằm trên 14 đường kinh (nếu kể cả 2 bên là 319 x 2 + 52 = 690 huyệt) và có nhiều hơn 200 huyệt ngoài đường kinh 

 

VI. KHÍ HUYẾT TRONG CÁC ĐƯỜNG KINH
1. Khí huyết trong các đường kinh không giống nhau: 
- Kinh thái dương, kinh quyết âm: huyết nhiều, ít khí.
- Kinh thiếu dương, kinh thiếu âm, kinh thái âm: huyết ít, khí nhiều.
- Kinh dương minh: huyết nhiều, khí nhiều.
2.  Sự thịnh suy của khí huyết trong từng đường kinh trong ngày:
- Sáng : Từ 3 - 5 h  giờ dần của Phế. Từ 5 - 7 h giờ mãocủa Đại trường. Từ 7 - 9 h  giờ thin của Vị. 
- Trưa : Từ 9 - 11 h giờ tỵ của Tỳ. Từ 11- 13 h giờ ngọ của Tâm. 
- Chiều : Từ 13 – 15 h giờ mùi của Tiểu trường. Từ 15 - 17 h giờ  thận của Bàng quang. Từ 17 - 19 h giờ dậu của Thận. 
- Đêm : Từ 19 – 21 h giờ tuất của Tâm bào. Từ 21 - 23 h  giờ hợi của Tam tiêu. Từ 23 -  1h  giờ tý của Đởm. Từ 1 -  3 h giờ sửu của Can.

 

VII .ĐƯỜNG TUẦN HOÀN CỦA 12 KINH CHÍNH
Mỗi kinh chính đều có vùng phân bố nhất định ở mặt ngoài của thân thể và tạng phủ bên trong. Vì vậy, mỗi kinh đều bao gồm một lộ trình bên ngoài và một lộ trình bên trong. 
Mỗi kinh đều có sự liên lạc giữa tạng và phủ có quan hệ biểu (ngoài nông) - lý (trong sâu), cho nên mỗi đường kinh đều có những phân nhánh để nối liền với kinh có quan hệ biểu lý với nó (ví dụ nối giữa phế và đại trường, giữa can và đởm... 
Mỗi kinh có đường tuần hoàn khí huyết, biểu hiện kinh bị bệnh , biểu hiện triệu chứng bệnh lý tạng phủ mà nó phụ trách , tác dụng chữa bệnh , sẽ được trình bày trong mỗi bài riêng 
                                                   
                                          BS Phạm thị Mai - tổng hợp

 



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn