THẦN KINH VÀ TÂM THẦN » Can và chữa bệnh can

HỘI CHỨNG BỆNH CAN KHÍ THỰC CHỨNG


 BS  PHẠM THỊ MAI - Điều trị cần xem xét Bệnh nhân đang ở hội chứng nào, giai đoạn nào, trong 3 hội chứng *Can khí uất kết *Can khí hoành nghịch *Can hoả thượng viêm. Ngoài ba hội chứng bệnh lý can khí nếu trên, còn có bệnh cơ khác kèm theo nữa hay không. Ở giai đoạn muộn dần , các dấu hiệu thực chứng được thay dần bằng các dấu hiệu hư chứng đó là * Can âm , can huyết hư


HỘI CHỨNG BỆNH CAN KHÍ THỰC CHỨNG
                   BS  PHẠM THỊ MAI
       Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng

    Các hội chứng can khí thực bao gồm
    *Can khí uất kết
    *Can khí hoành nghịch
    *Can hoả thượng viêm
     Bệnh nguyên có nhiều loại
     - Nội nhân thất tình, tình chí uất ức.là chủ yếu.
     - Do các thay đổi bệnh lý can đởm. Bệnh Gan Mật trong Tây y, ví dụ: gan nhiễm mỡ, sỏi mật, viêm gan, nhiễm độc gan 
     - Do bệnh lý các phủ tạng khác ảnh huởng đến can. Bệnh suy tim gây xơ gan , các bệnh thần kinh, nội tiết ảnh hưởng đến gan...
Hậu quả đều dẫn tới Can sơ tiết bất thường gây ra các hội chứng Can khí thực như trên

    Chẩn đoán :đối với người bệnh mắc can bệnh, điều quan trọng trước tiên, thầy phân biệt thực chứng hay hư chứng, sau đó mới đến phân loại can khí thực chứng thuôc hội chứng nào trong 3 hội chứng trên, để ra pháp trị và chọn phương dượccho chính xác.
    Điều trị cần xem xét:
    - Bệnh nhân đang ở hội chứng nào, giai đoạn nào, trong 3 hội chứng trên.
    - Ngoài hội chứng bệnh lý can khí nếu trên, còn có bệnh cơ khác kèm theo nữa hay không
    - Ở giai đoạn muộn dần , các dấu hiệu thực chứng được thay dần bằng các dấu hiệu hư chứng đó là 
     *Can âm hư, can huyết hư

I.CAN KHÍ UẤT KÊT

    Hội chứng can khí  uất kết là các chứng trạng liên quan phần nhiều đến các chứng bệnh rối loạn thần kinh chức năng và tinh thần kinh của Y  học hiện đại .Nguyên do tình chí uất kết, Can mất chức năng sơ tiết. Can khí uất kết phần nhiều có liên quan đến các bệnh rối loạn thần kinh chức năng và tinh thần kinh .
    Hội chứng can khí uất kết bao gồm các hội chứng và bệnh sau ;
 
    1. Uất chứng (Rối loạn thần kinh thực vật):Tinh thần uất ức. Tình chí không ổn định hoặc không vui, ý chí tiêu cực, ít nói năng, hoặc dễ giận dữ, tính nóng. Bệnh lâu ngày càng làm hại đến khí tạng can hơn nữa. Uất khí chẹn nặng vùng ngực, hay thở dài, ngực đầy tức , khó chịu, hồi hộp tim, , trong họng như ngẹn tắc , mất ngủ… ợ hơi, kém ăn, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền . Nam thuộc dương, đắc khí mà dễ tan; Nữ thuộc âm, đắc khí phần nhiều uất (Ngoại đài bí yếu) vì vậy nữ hay mắc bệnh hơn nam.
   2. Mai hạch khí (loạn cảm họng ) : Mai hạch khí tương ứng với chứng loạn cảm họng, thuộc hôi chứng rối loạn thần kinh thực vật trong Tây y. Triệu chứng chung: họng không sưng nhưng khi nuốt vào có cảm giác như có hạt mơ vương vướng, khạc không ra, nuốt không xuống, lúc tụ , lúc tan, lúc nhẹ, lúc nặng, lúc lại không thấy gì. Mỗi khi tức giận, mệ mỏi thì khó chịu hơn. lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt mạch huyền. Triệu chứng có khác nhau ở mỗi thể lâm sàng
    -Thể can khí uất kết:  Tinh thần không thoải mái, thường uất ức, ngực đầy, hông sườn đầy trướng,
    -Thể can khí uất đờm kết : do khí uất kết hợp với đàm gây nên khạc có ra đờm, lợm giọng buồn nôn, Rêu lưỡi nhờn .
    - Thể can uất tỳ hư : Hay suy nghĩ, ăn uống kém, gầy ốm đi, kinh nguyệt không đều, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Huyền tế 
    3. Hiếp thống, hạn bối thống, phúc thống, tích tụ : Khí cơ của Can bị uất không điều đạt gây nên đau thần kinh liên sườn, đau mỏi vai gáy, đau dạ dày , đau đại tràng do thần kinh. Biểu hiện chủ yếu là trướng đau, hoặc trướng nặng hơn đau, hoặc có luồng hơi xiên suốt, cơn đau thường có quan hệ chặt chẽ với tình chí, theo sự biến hóa của tình tự mà tăng giảm , có kiêm chứng vùng ngực khó chịu, vai gáy mỏi đau, bụng bĩ đầy, kém ăn.
    4. Rối loạn tiền mãn kinh:  mạch Nhâm hư, mạch Thái xung giảm sút, thiên quí cạn, địa đạo không thông, thường biểu hiện tình tự dễ bị kích động, mừng hoặc lo, thương muốn khóc, phiền táo không yên, hồi hộp, mất ngủ, hay quên, tai ù, chóng mặt v.v
    5. Rối loạn kinh nguyệt: Can khí mất điều hoà, mạch xung, mạch nhâm cũng theo đó mà không điều hoà.nên kinh nguyệt rối loạn, sớm, muộn không nhất định, khi đang hành kinh, bụng dưới trướng đau, tính tình nóng nảy hoặc ức uất không vui, ngực khó chịu, hai vú, hai bên sườn đau, chất lưỡi đỏ sạm, mạch huyền.
    6. U cục bướu : Khí uất đã lâu, ảnh hưởng đến sự vận hành của huyết và sự vận hoá tỳ, mà sinh ra đàm ngưng huyết ứ, cho nên sinh tràng nhạc bướu cổ, tràng nhạc, u vú, ngực sườn có khối cứng. nhói đau, nơi đau cố định.

II. CAN KHÍ HOÀNH NGHỊCH

    Chứng Can khí hoành nghịch với chứng Can khí uất kết, cả hai đều do tinh thần bị kích thích, khí cơ của tạng Can không điều đạt gây nên.
    Nhưng tình thế bệnh, biểu hiện lâm sàng của can khí hoành nghịch nặng hơn. Có thể từ Can khí uất chuyển qua hoành nghịch xâm phạm các tạng khác, lấn Tỳ, phạm Vị, xung Tám, vũ Phế, quấy rối Thận. Hoặc ngay từ đầu can sơ tiết thái quá, mà biểu hiện hoành nghich liền.

   1. Tâm căn suy nhược
Do can khí uất, khí can hoành nghịch xung tâm, tâm hoả vượngThường bị gây ra bởi  stress liên tục và kéo dài như bị đang bị pháp luật đe doạ. Bị cấp trên hay người có quyêng lực trong gia đình  ức hiếp, trù dập, con cái hư hỏng, chồng (vợ) gây chuyện mâu thuẫn nặng nề  ,…
Chứng trang  tinh thần uất ức, phiền muộn, đau khổ , đầy tức hay thở dài, đau đầu liên miên, mất ngủ, hay quên không thiết ăn uống…    
    2. Bất mị : mất ngủ, ngủ không yên giấc , hay hay chiêm bao
    3. Điên chứng  Phần nhiều do do tư lự thái quá, mong muốn không đạt, uất giận không tháo gỡ được tinh thần ức uất khiến can khí uất kết, Mộc khắc Thổ, Tỳ khí không thăng, đàm thấp chất chứa ở trong, đàm khí uất kết gây nên. Chứng trạng hoặc nói lảm nhảm một mình, nói năng lẫn lộn vô luân hoặc cười khóc bất thường, lúc vui lúc buồn, hoặc như ngơ ngẩn, không thiết ăn uống, rêu lưỡi mỏng nhớt, mạch Huyền hoặc Huyền Hoạt.
    4. Cuồng chứng : Can khí uất, sinh hoả, sinh đàm, hoả và đàm kết thành phong, phong nội động gây nhiễu loạn thần minh, mất trấn tĩnh, gây phiền táo, kinh sợ, mất ngủ , rối loạn tinh thần, phát cuồng mất ngủ cả đêm, không nằm ngỗi yên, đi lại lung tung, chửi bới , phá phách, có khi đâm chem. nguy hiểm
    5. Chứng Tạng Táo Hysteria
      Đây là một loại cơn thần kinh, tự nhiên hoặc do tức giận hoặc thấy người đến thì phát cơn lên histerya. Bỗng nhiên ngã lăn ra,  tay chân co giật, nói nhảm nhí, một lát sau đỡ dần và trở lại bình thường. Phân biệt cơn histerya với các cơn co giật của bệnh khác ở 3 đặc điểm rất đặc trưng
    - Khi ngã , họ tìm chọn chỗ sạch sẽ và không có khả năng gây sang chấn để ngã.
    - Có tính dễ lan truyền theo cơ chế bị thôi miên,cho em gái dậy thì, phụ nữ nguyên khí kém, có loại hình thần kinh yếu và  đời sống bản năng bị ức chế.
    - Cơn qua nhanh, đôi khi chỉ cần âu yếm vuốt ve là người bệnh qua cơn ngay.
    6. Huyễn vựng :cao huyết áp Chóng mặt , hoa mắt , đau đầu,
      7. Khí của tạng can xung khắc quá mạnh:

      - Can khắc tỳ vị mạnh : can khí hoành nghịch gây phạm vị, khắc tỳ. Chứng trạng như can khắc tỳ ở Can khí uất , không muốn ăn và tiêu hoá không tốt nhưng biểu hiện nặng hơn, và có thêm là ợ, là trướng, là nôn mửa, là cáu giận đau sườn đột ngột, là ngực đầy, bụng trướng đau, ỉa chảy, phạm Vị thì đau bụng, nôn mửa và nấc.
     - Can khí xung tâm : Khí uất không khai thông lâu ngày hóa nhiệt, có thể gây nên chứng Tâm phiền, đắng miệng, chất lưỡi đỏ. Cấp tính thì đau vùng ngực trước tim dữ dội,  muốn chết.
     - Can khí  vũ Phế thì ngực đầy, suyễn khái, đàm thấu;
     - Can khí quấy rối Thận thì tinh quan không bền mà di tinh tiết tinh di niệu.

   III. CAN HOẢ THƯỢNG VIÊM

     Can hoả thượng viêm là giai đoạn tiến triển nặng hơn của can khí uất và can khí hoành nghịch với biểu hiện hoả nghịc lên thái quá 
     Bệnh nguyên :thường do tình chí không thoải mái can khí uất lại , ứ trọc không tiết giáng được thì hóa hoả, Can hỏa rừng rực bốc cháy, lan toả khắp tam tiêu, trên dưới trong ngoài toàn thân đều bị bệnh, khó mà nói hết , rất nhiều biểu hiện bệnh như :
     Chứng trang : Mặt và gò má đỏ, phiền khát mạch Hồng; Táo, mụn nhọt; Đau sườn, bụng trướng đau, nuốt nước chua, háu đói hay khát,, nôn mửa, bĩ mãn, ách nghịch, ế cách, lâm bí; Cuồng, mất ngủ, tai ù; Kính quyết, nuy; Huyết tràn ra trên và dưới....đểu bởi nó.
     Can hoả thượng viêm lại tuỳ theo  mức độ và bộ vị bị bệnh mà  phân ra các loại  hoả uất, can hoả và thực hoả. (Cần phân biệt can hư hoả, do thận âm không đủ để nuôi dưỡng can mộc, can âm hư dẫn đến can hỏa vượng)
    Lâm sàng :Chứng Can hỏa thượng viêm thường gặp trong các bệnh sau

1.Đầu thống thể can hoả thượng viêm : Can hỏa thượng viêm,  tính của hỏa bốc lên, huyết khí bị nghịch loạn quấy rối phủ thanh không hoặc vít lấp tai, thanh khiếu bị che mờ gây nên bệnh. Đau vùng đỉnh đầu, đau như búa bổ hoặc căng trướng bức tức khó chịu hoặc cảm thấy gân mạch vùng đầu nhấm nhói và đau giật ,lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng, mạch huyền hoạt sác.

2. Huyễn vậng: Cơn cao huyết áp. phần nhiều kiêm chứng chóang váng không đứng vững, hoa mắt Pháp :Bình Can giáng hỏa.

3. Xuất huyết thể can hoả thượng viêm: Hỏa bốc lên bức huyết vọng hành,  sinh ra các chứng xuất huyết. Thổ huyết, nục huyết, sắc huyết đỏ tươi, đau sườn, đắng miệng, khô họng, tâm phiền hay giận, vật vã không yên, mắt đỏ nhiều gèn, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Huyền Sác; đây; Pháp  trị  thanh Can tả hoả, mát huyết cầm huyết

4. Bất mị thể can hoả thượng viêm : Can hỏa quấy nhiễu Tâm, thần không ở yên chốn gây nên  mất ngủ, không nằm được yên, dễ bị kinh sợ, tai nghe tiếng vang, hay cáu giận, tâm phiền hai mắt đỏ, miệng đăng họng khô, kèm theo chóang váng tai ù, đại tiện bí kết, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Hồng Thực. Pháp  trị nên thanh Can tả hoả, yên thần định chí

5. Thốn toan thể can hoả thượng viêm: Can  hỏa nghịch phạm Vị, Vị mất hòa giáng gây nên,  ứa mửa ra nước chua, đau rát, thượng vị lan ra hai bên sườn  bụng bĩ đầy ngực khó chịu, nhộn nhạo ợ hơi, miệng khô mà đắng, lưỡi đỏ mạch Huyền Sác,Pháp trị  thanh Can tả hoả.

6.  Cuồng táo can hoả thượng viêm : Can khí hỏa hun đốt tân dịch thành đàm, đàm hỏa úng thịnh quấy nhiễu lên trên, thần minh nghịch loạn. Đau đầu, mất ngủ, hai mắt trợn trừng, mặt mắt đỏ, nặng hơn thời cuồng loạn vô tri, nhẩy rào trèo tường, chửi bới liên tục không ngại thân sơ, hoặc phá phách đồ vật, sức mạnh hơn người bình thường, đại tiện bí kết, tiểu tiện đỏ rít, lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng xốp, mạch Huyền Hoạt Sác. Pháp  trị nên thanh Can tả hoả, quét đàm yên thần. 

IV.CAN ÂM CAN HUYẾT HƯ 
 
Có nhiều nguyên nhân can âm , can huyết hư . Xem bài HỘI CHỨNG BỆNH CAN KHÍ HƯ CHỨNG . Can âm huyết hư thuộc hư chứngBài này cho mục CAN ÂM CAN HUYẾT HƯ này,  ý muốn  nói  Can âm huyết hư còn có một nguyên nhân do Can uất hóa hỏa kéo dài lâu ngày, hỏa tà sẽ thương Can âm. hoặc hư can huyết.  bệnh nhân ngoài tâm trạng phiền táo, sẽ xuất hiện các triệu chứng như hai mắt khô ráp, nhìn mọi vật mờ mờ, ức sườn đau… 

                           BS  PHẠM THỊ MAI
       Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng






CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn