BỆNH TIÊU HOÁ » Ỉa Chảy Cấp Và Mãn

ỈA CHẢY DO ROTAVIRUS


BS Phạm Thị Mai :  tiêu chảy do Rotavirus, hầu như tất cả các trẻ nhỏ đều phải bị nhiễm. Bênh được phát hiện sớm, truyền dịch khi có chỉ định, chăm sóc y tế tốt, rất nhanh ổn định. Nếu không trẻ sẽ tử vong do mất nước và các biến chứng. 


 ỈA CHẢY DO ROTAVIRUS
     BS Phạm Thị Mai - Skls

I. 
ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH DỊCH TỄ 

    Trong các nguyên nhân tiêu chảy cấp ở trẻ nhỏ, thi rotavirus là nguyên nhân thường gặp nhất. Bệnh thường xuyên phát thành dịch lẻ tẻ ở mọi nơi trên toàn cầu.

    Hầu như tất cả các trẻ nhỏ đều phải bị nhiễm. Do có rất nhiều type Rotavirus, nên trẻ đã tiêm chủng hay đã bị bệnh rồi vẫn có khả năng tái nhiễm (Tái nhiễm thường nhẹ hơn). Trẻ sơ sinh, nhũ nhi, dưới 2 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn và thường nặng hơn. ( Người lớn ít mắc bệnh và bệnh nhẹ do đã có đề kháng)

    Bênh được phát hiện sớm, truyền dịch khi có chỉ định, chăm sóc y tế tốt, rất nhanh ổn định. Nếu không trẻ sẽ tử vong do mất nước và các biến chứng. Có khoảng nửa triệu trẻ tử vong mỗi năm ở các nước lạc hậu.

    Phân, chất tiết hô hấp chứa rotavirus ( của trẻ bị bệnh vài ngày trước khi các triệu chứng xuất hiện và cho đến 10 ngày sau khi các triệu chứng giảm dần ). Đặc biệt người lành mang mầm bệnh mới chính là nguồn lây nhiễm lan rộng và lâu dài trên thế giới. Rotavirus rất dễ lây qua tiếp xúc tay-miệng xâm nhập vào dạ dày ruột  

   II.  CƠ CHẾ BỆNH SINH

  * Rotavirus gây tổn thương biểu mô ruột, sự hấp thu Na+, nước giảm sút. Đồng thời thức ăn ( đạm, mỡ , tinh bột) không được tiêu hoá hoàn toàn, xuống đại tràng làm tăng áp lực thẩm thấu, gây tiêu chảy thẩm thấu.
    * NSP4 enterotoxin của virus tiết ra làm cho tế bào niêm mạc ruột tăng thẩm thấu nước vào lòng ruột ( cả ở những vị trí ruột không bị tổn thương hay chỉ tổn thương nhẹ). Đồng thời NSP4 enterotoxin kích thích các tế bào thần kinh ruột, tăng nhu động, làm tiêu chảy nặng thêm.
    * Phản ứng chống độc của cơ thể : Prostaglandin E2 (PGE2) tại ruột tăng lên gây kích thích xuất tiết nước vào lòng ruột.

    III. LÂM SÀNG

    1.Triệu chứng 12 giờ đến 4 ngàysau nhiễm rotavirus, khởi phát bệnh với các biểu hiện sau :

     - Nôn ói: rất nhiều vào ngày đầu. 12 – 24 giờ sau giảm bớt và trẻ bắt đầu tiêu chảy. Nôn ói có thể kéo dài khoảng 2-3 ngày.
    -Tiêu chảy: phân lỏng toàn nước, có lúc màu xanh dưa cải, có thể có đàm, nhớt nhưng không có máu. Tiêu chảy ngày càng tăng trong vài ngày, có thể  đến 20 lần một ngày, sau đó giảm dần. Đa số các trẻ sẽ hết tiêu chảy sau 4 – 8 ngày. Tuy nhiên có thể có trẻ vẫn còn tiêu chảy đến 2 tuần dù đã khỏe, chơi, đòi ăn trở lại.
    - Sốt : vừa phải hoặc không sốt.
    - Đau bụng: quấy khóc, khó chịu nhiều hoặc ít.
    - Ho và chảy nước mũi mức độ nhẹ hay vừa.

     Trẻ càng nhỏ, trẻ suy dinh dưỡng càng có nguy cơ nặng.

    2. Biến chứng :

   - Mất nước nặng, suy kiệt : do mất nước và mất muối, toan máu, trụy mạch và tử vong Tỷ lệ tử vong cao ( gần 900.000 ca  tử vong hàng năm) ở các nước lạc hậu về y tế
   - Suy dinh dưỡng :



 

    3Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng:  theo các mức độ I, II, III và phân các thể SDD Marasmus, Kwashiokor, thể phối hợp, để chưa SDD kèm theo . Trẻ bụ bẫm khó dánh giá tình trạng mất nước hơn,

    4. Rối loạn điện giải và thăng bằng toan kiềm :
    - Giảm Kali : chướng bụng (giảm nhu động ruột, liệt ruột). Giảm trương lực cơ ( cơ nhẽo, yếu cơ). Rối loạn nhịp tim: trên ĐTĐ có sóng T dẹt, QT kéo dài, rối loạn nhịp xoang. Điện giải đồ: Kali giảm<3 mEq/ l
    - Nhiễm toan chuyển hoá : thở nhanh và sâu, môi đỏ.  PH máu  giảm, kiềm dư thấp BE<-5

    IV.CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT 

    1.Do Rota virut : lâm sàng. Phản ứng ELISA (+)
    2.Tiêu chảy xuất tiết : Vibrio Cholerae ( gây dich  tả) , E.Coli chủng ETEC ( gây tiêu chảy cấp , phân rót ra như nước ) ,Cryptosporidia ( xoắn khuẩn gây ngộ độc thực phẩm) , Staphylococus ( tụ cầu gây ngộ độc thực phẩm). Chẩn đoán bằng  xét nghiệm : cấy phân , soi phân tươi, CRP
    3.Tiêu chảy xâm nhập : Shigella ( gây bệnh lỵ trực khuẩn), Campylobacter ( là đơn bào gây tiêu chảy cấp , phân có nhầy máu). Chẩn đoán bằng  xét nghiệm : cấy phân , soi phân tươi, CRP

    V.ĐIỀU TRỊ TÂY Y 
    Phần này được  soạn thảo theo  
Quyết định 4121/QĐ-BYT tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em

   1.Bồi phụ nước và điện giải theo phác đồ của WHO

* Phác đồ A  - mất nước nhẹ, điều trị tại nhà:  
    Lượng ORS cần uống:
   + Dưới 24 tháng 500 ml /ngày. Uống sau mỗi lần đi ngoài: 50-100 ml  .
   + 2-10 tuổi : 1000 ml /ngày. Uống sau mỗi lần đi ngoài: 100- 200 ml 
   + > 10 tuổi : 2000ml /ngày.  Uống sau mỗi lần đi ngoài : theo nhu cầu
    Cách cho uống ORS :  trẻ < 2 tuổi cho uống từng thìa nhỏ cách nhau 1-2 phút.Trẻ lớn hơn cho uống từng ngụm bằng ly. Nếu trẻ nôn, đợi 10 phút sau đó cho uống trở lại, uống chậm hơn.
      Dinh dưỡng : cho trẻ ăn nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng, chia nhiều bữa nhỏ, để phòng suy dinh dưỡng.

     Đưa trẻ tới bác sĩ hoặc bệnh viện : nếu không đỡ sau 3 ngày hoặc có 1 trong các triệu chứng sau : Đi ngoài nhiều lần, phân nhiều nước. Nôn liên tục. Khát nhiều. Ăn hoặc uống kém. Sốt. Có máu trong phân.

    * Phác đồ B -
điều trị mất nước nhẹ hoặc trung bình 
    Nếu tình trạng toàn thân nói chung còn tương đối bình thường, thì điêù trị ngoại trú theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu trẻ mệt, suy sụp, hay đã có sẵn bệnh suy dinh dưỡng hay bệnh kèm khác nên nhập viện.
    Mất nước độ B uống ORS trong 4 giờ đầu theo bảng:

 

     Cho trẻ uống thêm nếu trẻ còn muốn uống. Vẫn cho trẻ bú mẹ Vẫn cho trẻ bú mẹ Nếu mi mắt trẻ nề, ngừng cho trẻ uống ORS và cho uống nước hoặc sữa mẹ.Sau 4 giờ : nếu hết dấu hiệu mất nước, dùng phác đồ A; Nếu vẫn ở mức mất nước độ B dùng phác đồ B; Nếu mất nước mức C phải truyền dịch theo phác đồ C.                                                                                                                                                                  
* Phác đồ C - điều trị mất nước nặng:

  

- Truyền lặp lại nếu mạch còn yếu hoặc không bắt được.
- Sau 1-2 giờ  nếu các dấu hiệu mất nước không cải thiện, có thể truyền nhanh hơn.
- Ngay sau khi bệnh nhi uống được, cho uống ORS (khoảng 5ml/kg/giờ), thường sau 3-4 giờ (trẻ nhỏ) hoặc 1-2giờ đối với trẻ lớn hơn.
- Sau 3 giờ ( trẻ nhỏ) hoặc 6 giờ ( trẻ lớn) đánh gíá lại mức độ mất nước và chọn phác đồ điều trị tiếp theo cho phù hợp.

    2. Rối loạn điện giải và thăng bằng toan kiềm : điều trị phối hợp theo kết quả xét nghiệm. 
    3. Điều trị kháng sinh : khi có nghi ngờ bội nhiễm vi khuẩn hoặc đã chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn ngoài ruột hoặc tại ruột .
    4. Dinh dưỡng : duy trì  bú mẹ hay bú sữa bình, trẻ ăn dặm hay ăn theo bữa chính nên chia thành nhiều bữa nhỏ. Nếu vừa ăn, bú xong trẻ nôn , cho trẻ nghỉ 10 phút cho ăn hay bú lại. 

   5. Chống nôn
  Primperan, Motilium dùng thận trọng, giảm liều nhỏ.

   6. Thuốc giảm đau và cầm ỉa:
 Atropin, Imodium, dẫn xuất thuốc phiện tuyệt đối không được dùng

    7. Hướng dẫn mẹ chăm sóc trẻ,  điều trị và phòng bệnh sau khi trẻ ra viện.

  VI. MẸ THEO DÕI , CHĂM SÓC CON THẾ NÀO ?

      Mẹ nắm được hai bảng triệu chứng sau để biết con bị tiêu chảy nhẹ, vừa hay nặng; biết con tiêu chảy do virus ( hàn thấp ) hay do vi trùng( thấp nhiệt)

     Nếu trẻ ỉa chảy ở mức độ A, trong bảng 1, và nguyên nhân do hàn thấp ( virus) trong bảng 3, mẹ yên tâm cho bé uống thường xuyên nước gạo rang và thức ăn của trẻ được chế biến kèm củ cà rốt chín xay mịn.
     Cách làm nước gạo rang : lất chừng 3 muống canh vun gạo. Rang nhỏ lửa, đến khi gạo chuyển sang màu cánh dán là được. Đổ nửa lít nước vào đun sôi nhỏ lửa 15 phút. Đậy nắp, khi đã nguội lược lấy nước, cho vào chai sạch để cho bé uống dần theo nhu cầu của bé, không sợ quá liều. Có thể thay thế cho ORS.
   Chăm sóc vệ sinh tốt ( phòng bội nhiễm vi trùng), dinh dưỡng quan tâm đặc biệt với chế độ ăn bổ, nhẹ, dễ tiêu, chia nhỏ bữa. Bé còn bú , mẹ nhớ rằng : mẹ phải tích cực ăn, uông sữa nhiều để tăng cường cho bé bú và có sức khoẻ chăm sóc bé tốt hơn.   


Bảng 3. Phân biệt tiêu chảy do virus và tiêu chảy do vi trùng 

 

    Nếu bé mất nước độ B ( vừa hoặc nhẹ ) nhưng tổng trạng bé chưa bị suy sụp, bé vẫn chịu ăn,,  chịu ngủ quấy khóc, không có suy dinh dưỡng, sởi,  hay viêm nhiễm cơ quan khác trước khi iêu chảy, mẹ luôn có liên hệ với bác sĩ điề trị ngoại trú cho bé, để trao đổi tình hình và thực hiện theo chỉ dẫn của bác sĩ.

     Ngược lai, nếu  bé mất nước độ B ( vừa hoặc nhẹ ) cộng thêm có những yếu tố kèm theo trên , mẹ phải đưa bé đến bệnh viện. Truyền dịch ngay cho bé sẽ tốt hơn.

      VII. KINH NGHIỆM TRONG ĐIỀU TRỊ TIÊU CHẢY ROTAVIRUS      
     Phát hiện bệnh sớm, quan tâm cho uống nhiều nước gạo rang, nước cà rốt hay thức ăn chế biến với cà rốt ngay từ giờ phút đầu tiên bé bị nôn, ỉa chảy. Nếu trẻ có dấu hiệu nôn và tiêu chảy nhiều, truyền dịch sớm sẽ tốt hơn.                                                                          
     Trong các tình huống bệnh, bao giờ theo dõi và chữa kết hợp Đông- Tây y cũng tốt hơn. Ví dụ truỵ mach, được cấp cứu truyền dịch, nâng huyết áp mà có thêm các phương thuốc hồi dương cứu nghich đã nêu trên sẽ nhanh chóng đưa bệnh nhi thoát khỏi cơn hiểm nghèo đe doạ tính mạng. Giai đoạn ổn định cần cho trẻ uống thuốc bổ tỳ dương, nhất là đối với các trẻ suy dinh dưỡng.
     Dùng thêm kẽm và men tiêu hoá vi sinh giúp bệnh mau lành.
     Dùng ORS mới, có độ thẩm thấu thấp hiệu quả hơn ORS cũ có độ thẩm thấu cao.                             Mẹ hay người trực tiếp chăm sóc trẻ:   cần thiết phải có kiến thức cơ bản nhất về bệnh tiêu chảy do Rotavirus  và cách theo dõi , chăm sóc cho bé  khi bị bệnh này; Quý nhất là có tình thương yêu bé , xót xa khi thấy bé bệnh, hết  lòng lo lắng tận tuỵ với bé.

    VIII. PHÒNG BỆNH VÀ UỐNG VACXIN  

   1. Tăng đề kháng và kháng thể
    - Nuôi con bằng sữa mẹ :
trẻ bú sữa mẹ đầy đủ trong 2 năm đầu có thể giảm nguy cơ mắc bệnh.
    - Chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ, giữ ấm cho trẻ về mùa lạnh. 
    - Globulin miễn dịch uống : cho  trẻ sơ sinh thiếu cân và trẻ miễn dịch kém
    - Uống vắc-xin phòng bệnh Rotavirus . Vắc -xin Rotarix là chất lỏng chứa Rotavirus đã được làm vô hiệu hoá tác dụng gây bệnh, dùng khi trẻ hai tháng tuổi và một lần nữa khi trẻ  ba tháng tuổi. Uống ngừa Rotarix vào chương trình tiêm chủng thường quy toàn cầu.
   
    2. Đối với trẻ bệnh :

   - Cần nghỉ học để tránh lây lan và được chăm sóc.
   - Người chăm sóc trẻ bệnh:  phải rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với trẻ.

   - Chất thải ( phân, chất nôn, đờm rãi, dịch mũi) phải cho vào bao nylon kín, bỏ vào thùng rác.
   -  Vật dụng, sàn nhà, toa-lét, bồn cầu, lavabo ... mà trẻ sử dụng phải lau rửa, sát trùng bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin B .                                                                                                            
    3. Đối với trẻ lành, 
tránh tiếp xúc với trẻ bệnh, giữ vệ sinh cho trẻ nhỏ và hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh cho trẻ đã có ý thức ( nhất là khi đang trong vụ dịch) Tập cho trẻ có thói quen rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh. Không để trẻ bò lê la trên sàn nhà hoặc ngậm tay, ngậm đồ chơi

   
    4.Rửa tay là biện pháp phòng bệnh quan trọng : 
rửa tay kỹ lưỡng trong 10 giây bằng xà bông, xả sạch dưới vòi nước và lau khô bằng khăn sạch.

                                                       BS Phạm Thị Mai - Skls

   



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn