CÁC CHỨNG TÊ LIỆT » Khái quát về liệt

KHÁI QUÁT VỀ CÁC CHỨNG LIỆT


 BS PHẠM THỊ MAI ĐÔNG Y, ĐÀ NẴNG , CHỮA LIỆT ...Liệt là tình trạng suy yếu, mất khả năng vận động của nửa người, hai chi dưới, tứ chi, một chi , hay chỉ một cơ, một nhóm cơ nào đó trong thân thể. Liệt là biểu hiện triệu chứng của nhiều bệnh, gây ra bởi tổn thương thần kinh trung ương , thần kinh ngoại vi hay của nhóm bệnh không thuộc hệ thần kinh.

        KHÁI QUÁT VỀ CÁC CHỨNG LIỆT 
                                     BS  PHẠM THỊ MAI
          Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng
 

    Liệt là tình trạng suy yếu, mất khả năng vận động của nửa người, hai chi dưới, tứ chi, một chi, hay chỉ một cơ, một nhóm cơ nào đó trong thân thể.  Liệt là biểu hiện triệu chứng của nhiều bệnh, gây ra bởi tổn thương thần kinh trung ương, thần kinh ngoại vi hay của nhóm bệnh không thuộc hệ thần kinh. 

I.NHÓM BỆNH DO TỔN THƯƠNG THẦN KINH

1. TỔN THƯƠNG THẦN KINH TRUNG ƯƠNG

      Những bệnh thần kinh trung ương bao gồmĐột quỵ, Chấn thương não; Máu tụ dưới màng cứng; U hệ thần kinh trung ương; Xơ cứng cột bên teo cơ; Xơ cứng rãi rác; Sarcoidosis

         GÂY LIỆT NỬA NGƯỜI

         * Tổn thương não  liệt nửa ng­ười đối bên
-  Vỏ não:
-  Bao trong: bệnh rất nặng
- Thân não: tuỳ theo tổn thương tại  cuống não, cầu não, hành tuỷ, hay phối hợp mà triệu chứn liệt nửa người kèm theo các dấu hiệu liệt dây thần kinh trug ương khác kèm theo liệt một số dây sọ não

           * Tổn thương tuỷ cổ  C1 - C4 
- Một số các trường hợp liệt nửa ng­ười cùng bên với tổn th­ương. không có liệt các dây thần kinh sọ não.
- Đặc biệt nếu kết hợp với mất cảm giác thân thể cùng bên và mất cảm giác đau và nhiệt đối bên ( HC Brown-Séquard).
- Tuy nhiên, hầu hết các thương tổn tủy cổ gây ra liệt tứ chi hay liệt hai chi dưới

         GÂY LIỆT HAI CHI DƯỚI HOẶC TỨ CHI
         Tổn thương tuỷ sống (Spinal Cord Injury - SCI) là tổn thương bó tháp ở tủy sống thuộc thần kinh trung ương,  là các dây thần kinh trong ống tủy sống;  SCI có nguyên nhân ép tuỷ, viêm tuỷ, chấn thương tuỷ. Do đó ảnh hưởng đến khả năng của tủy sống trong việc điều khiển cảm giác, vận động và chức năng tự trị của cơ thể dưới mức tổn thương

          * Do ép tuỷ

 Tổn thương tuỷ cổ : Liệt cứng hai chi dưới hoặc tứ chi theo kiểu tháp
- Chèn ép tuỷ C1-C4 : có thể kèm : liệt nửa cơ hoành, nấc cụt,. chèn ép dây dây V,  XI, liệt cơ ức đòn chũm, cơ thang,
- Chèn ép tủy C5 – C7: kèm HC đau thần kinh cánh tay bên tổn thương. Cảm giác ( ở dưới mức tổn thương): Ban đầu đau kiểu bị bó chặt, bị kẹp. Tổn thương theo bó tháp thì rối loạn định vị cảm giác, rối loạn sự nhận biết tên, vị trí ngón. Còn tổn thương theo bó gai đồi thị thì đau, dị cảm, rối loạn cảm giác nhiệt, nhưng không có định vị rõ, không có yếu tố khởi phát đau rõ ( đây là các đặc điểm khác với đau kiểu rễ ) . Sau đó Các rối loạn này nặng lên từ từ cho đến mức nặng nhất là mất cảm giác hoàn toàn ở vùng dưới nơi thương tổn.

  Tổn thương tuỷ ngực 

+ Liệt trung ­ương hai chân.
+ Rối loạn cảm giác : Ngang núm vú là D4 .Ngang bờ sườn là D 8.  Ngang rốn là D10.
+ Rối loạn cơ vòng.

   Tổn thương tuỷ phình thắt lưng
+ Liệt ngoại vi hai chân
+ Rối loạn cảm giác :
- Bẹn : ngang nếp bẹn là L1
- Đùi : tr­ước - L2, L3, L4 . Sau - L2, L3, L4, L5 :
- Cẳng chân: tr­ước trong - L4. Trư­ớc ngoài -L5.
+ Rối loạn cơ vòng.

  Tổn thương chóp tuỷ 
+ Không liệt , không rối loạn vận động.
+ Rối loạn cơ vòng kiểu ngọai vi.
+ Mất cảm giác : Cẳng chân sau ngoài S1. Sau trong S2. Vùng yên ngựa, (S3, S4, S5)

   * Do viêm tuỷ cấp
      Viêm tuỷ cấp do nhiễm siêu vi , nhiễm vi trùng , nhiễm độc. Có nhiều thể lâm sàng khác nhau. Bao gồm:  viêm tuỷ xám, viêm tuỷ trắng hay toàn bộ tuỷ được gọi là viêm tuỷ ngang .Tổn thương rải rác ở và lan rộng là viêm tuỷ rải rác

    * Do chấn thương
     Chấn thương làm ép tuỷ, đứt tuỷ, giập nát tuỷ, nhũn tuỷ . Tuỳ vị trí  vf mức độ tổn thương mà gây ra nhiều bệnh cảnh lâm sàng biểu hiện triệu chứng khác nhau và nặng nhẹ khác nhau .

     2. TỔN THƯƠNG THẦN KINH NGOẠI VI

     Tổn thương thần kinh ngoại vi là  tổn thương rễ, đám rối, hoặc dây thần kinh ngoại biên; Tổn thương sừng trước tuỷ điển hình là bệnh sốt do virus bại liệt. Đặc trưng v của nhóm bệnh này , bao giờ cũng là liệt mềm.
     Liệt hai chân ngoại vi là những bệnh neuron vận động dưới điển hình trong Hội chứng Guillain-Barré 
     
      3. LIÊT TRONG BỆNH LÝ NEURON  TRUNG ƯƠNG 
       Có bài riêng

II. NHÓM BỆNH KHÔNG THUỘC HỆ THẦN KINH 

     1. LIỆT TRONG CÁC BỆNH LÝ CƠ .
      Gồm các bệnh :  Bệnh loạn dưỡng cơ; Viêm đa cơ và viêm da cơ... là những bệnh lý thoái hoá , loạn dưỡng cơ.  
      Trong các bệnh này , cơ liệt thường rõ ở gốc chi, không rối loạn cảm giác, không rối loạn cơ tròn và không giảm trương lực cơ, không mất phản xạ gân xương ít nhất là cho tới giai đoạn tiến triển
     
      2. BỆNH NHƯỢC CƠ 
     
 Bệnh lý bất thường tiếp hợp bản vận động thần kinh cơ .
       Cơ liệt phân bố rời rạc, thường thay đổi, không có rối loạn cảm giác. 

       3. CÁC CHỨNG LIỆT TẠM THỜI TRONG RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI 
           
Rối loạn điện giải máu  như:  Hạ kali, natri, phosphate. Tăng kali , natri, calci, Magne.
 
       4. LIỆT DO MỘT SỐ BỆNH NHIỄM TRÙNG, NHIỄM ĐỘC 
         
 - Bệnh nhiễm trùng  HIV, AIDS; Toxoplasmosis


LƯU Ý CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT 

       Chẩn đoán phân biệt liệt với yếu toàn thân do suy nhược, mất sức hoặc bệnh histeria   
        
                                                                                         BS  PHẠM THỊ MAI

(*) LIÊT TRONG BỆNH LÝ NEURON  TRUNG ƯƠNG

 gây tổn thương các neuron của đường vận động;

1.Neuron I đường vận động (bó tháp)  liệt cứng khu trú một số nhóm cơ, với tăng trương lực, tăng phản xạ gân xương, phản xạ duỗi gan bàn chân (+).

2.Neuron II của đường vận động (bó tháp) gây liệt mềm, với  giảm trương lực cơ, mất phản xạ gân xương, không thay đổi phản xạ gan bàn chân. Có thể có co cơ cục bộ. Vị trí của liệt, thay đổi cảm giác là các dấu hiệu để chẩn đoán phân biệt giữa bệnh lý Neuron II của đường vận động (bó tháp) với liệt do  bệnh lý ngoại biên (tổn thương rễ, đám rối, dây) .



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn