BỆNH TIÊU HOÁ » Xử lý triệu chứng

NGHẸN, KHÓ NUỐT (Ế CÁCH)


Suckhoeloisong.vn Chứng Ế Cách là tình trạng khó nuốt, nghẹn mãn tính, thường bị nôn ra. Nghẹn trên cơ hoành cách (thượng tiêu), gọi là Ế. Nghẹn dưới cơ hoành cách ( bao tử - trung tiêu) gọi là Cách. Nghẹn cơ năng do co thắt thực quản/ Nghẹn thực thể có tổn thương tại thực quản, dạ dày hay khối chèn ép từ bên ngoài vào thực quản , dạ dày...
 

NGHẸN, KHÓ NUỐT (Ế CÁCH)
                         BS  Phạm Thị Mai
    Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng        
   
I. KHÁI NIỆM VỀ Ế CÁCH

     Chứng Ế Cách là tình trạng khó nuốt, nghẹn mãn tính, khi nuốt đồ ăn, thức uống xuống, bị trở ngại ở thực quản hay dạ dày, không xuống được, phải nôn ra. 
Tuỳ theo vị trí mắc nghẹn để phân biệt chứng Ế , hay chứng Cách
      - Nghẹn trên cơ hoành cách (thượng tiêu), gọi là Ế
      - Nghẹn dưới cơ hoành cách ( bao tử - trung tiêu) gọi là Cách.
     Trong Tây y , nghẹn là triệu chứng của rất nhiều bệnh,
- Rối loạn thần kinh thực quản, thực quản co thắt, Tâm Vị co thắt; cơ năng do tâm lý
- Tổn thương thực thể nhiều bệnh tại thực quản, dạ dày như viêm, loét , khối u, ung thư
- Trào ngược dạ dày thực quản
- Khối chèn từ bên ngoài vào như bướu giáp, suy tim, tim to, u phế quản
( Nghẹn, hóc dị vật, thức ăn cấp tính, trong tình trạng cấp cứu , không thuộc nội dung bài viết này )
    Nội dung sau đây cũng chỉ đi sâu về vấn đề chẩn đoán điều trị bằng Y học cổ truyền.Tuy nhiên, người bệnh bị nghẹn mãn tính cần thiết phải đi khám, chẩn đoán Tây y trước.

    I.NGUYÊN NHÂN

    1.Do Lo Nghĩ, Uất Ức l
àm hại đến Can khí, gây nên uất kết, đờm khí, huyết ứ tụ lại trên cách mô, gây trở ngại làm cho nuốt khó, ăn uống không xuống, vì vậy nguyên nhân này chỉ có ở người lớn tuổi Vì bệnh do lo nghĩ, tinh thần gây nên, vì vậy, cần bảo dưỡng tinh thần, dẹp bớt tư lự thì tân dịch mới tụ về trong Vị.
    2. Do đờm hỏa
    Như trên đã viết Can khí bị uất kết sinh ra huyết ứ. Đờm ứ và huyết ứ lâu sinh hoả và kết laị, và bị khô táo họng, thượng quản, trung quản , nên ăn uống vào không được lưu lợi thành ra ế cách.
    3. Uống rượu và ăn đồ cay nóng
    Người uống rượu thường bị chứng ế cách, ăn nhiều thức ăn cay, nóng, lâu ngày cũng sinh ế cách. Vì nóng thì hại tân dịch, cuống họng khô sáp, ăn uống không xuống được gây nên nghẹn. ăn vào không được. Nên ăn những thức ăn thanh đạm, tránh thức ăn béo, vì chứng này thuộc nhiệt mà táo, ăn thức ăn béo sẽ giúp thêm hỏa, sinh ra đờm, sẽ làm cho bệnh nặng thêm.
    4. Ham uống rượu, lại tình dục phóng túng,
    Tinh huyết khô cạn huyết, tổn hại chân âm. Âm không đủ để giữ dương khí. Khí không thông
    5.Do tuổi tác, bệnh tật và lao thương làm hại thận âm
    Ế cách, người trẻ ít bị, người lớn tuổi, người yếu sức bị nhiều.
Người già, chân khí đã suy, khí hư không vận hóa được tân dịch mà sinh đờm. Thận thủy khô, tinh huyết khô cạn thì ở trên Vị quản khô sít, nên nuốt nghẹn, ở dưới bị bệnh táo kết.
 
    II.CÁC THỂ BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ

    1.Đờm Khí Ngăn Trở
    Triệu chứng:  Nuốt nghẹn, ngực đầy, đại tiện khó, miệng và họng khô, gầy ốm, chất lưỡi đỏ, mạch huyền, tế, sáp
    Pháp trị : Khai uất, nhuận táo
    Phương thang :
     Khải Cách Tán (Y Học Tâm Ngộ): Sa sâm, Đan sâm nn 12g, Bối mẫu bỏ lõi 6g, Phục linh 4g, Hà diệp đế (Gương sen) 2 cái, Sa nhân vỏ 1,6g, Uất kim 2g. Sắc uống.
     (Uất kim, Sa nhân để khai uất, lợi khí; Sa sâm, Bối mẫu nhuận táo, hóa đờm; Đan sâm tan ứ huyết; Phục linh lợi thấp).

     2.Huyết Ứ Nội Kết
    Triệu chứng: Vùng ngực đau nhói, vừa ăn xong là nôn, kể cả nước cũng không uống được, đại tiện cứng như phân dê, hoặc như nước đậu đỏ, đậu đen, gầy ốm, lưỡi đỏ, ít nước miếng, lưỡi xanh tím, mạch tế sáp
     Pháp trị : tư âm, dưỡng huyết, phá kết, hành ứ
     Phương thang :
    Thông U Thang (NKHT. Hải)
    Thông U Thang (Nội khoa Thành Đô).
    Thông U Thang (Lan Thất Bí Tàng): Quy vĩ, Đào nhân, Thăng ma nn 4g, Sinh địa, Thục địa nn 2g, Chích thảo, Hồng hoa nn 0,4g. Sắc, cho thêm bột Tân lang 2g, uống nóng.
(Sinh địa, Thục địa, Đương quy tư âm, dưỡng huyết; Đào nhân, Hồng hoa phá kết, hành ứ; Tân lang phá khí trệ, giáng xuống; Thăng ma hành khí đi lên, giúp cho khí lên xuống được điều hòa).
    Hòa Vị Chỉ Kinh Thang Gia Vị (Thiên Gia Diệu Phương): Đao đậu tử, Xích thược, Ngọa lăng, Bạch thược đều 40g, Đương quy, Ngẫu tiết, Mộc qua đều 16g, Hạnh nhân, Quất hồng, Hồng hoa, Tuyền phúc hoa, Đại giả thạch, Hương phụ đều 12g, Mai khôi hoa, Sa nhân, Sinh khương đều 6g. Sắc uống.

    4.Khí Dương Suy
    Triệu chứng: Ăn uống không xuống, mặt nhạt, sợ lạnh, hụt hơi, nôn ra nước và nước miếng, mặt và chân phù, bụng trướng, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch Tế Nhược
     Pháp trị:  bồi bổ chân khí là chính. kiện Tỳ, sinh tân, giáng nghịch.
     - Uống các thứ sữa, các thứ nước tươi
     - Khi vừa chữa khỏi, tuy thèm ăn uống cũng không được cho ăn cơm cháo ngay. Nếu Tỳ Vị chưa mạnh mà đã vội cho ăn cháo gạo thì hầu hết không chữa được. 
      - Phương thang :
Cháo Nhân sâm, Nhân sâm, Trần bì nn 8g, Gạo tốt 40g, sắc uống dần từng ít một / mỗi ngày, để thêm Vị khí. Uống như vậy thấy yên thì tăng Nhân sâm dần dần, sau một tuần mới có thể ăn cháo được.
Bổ Khí Vận Tỳ Thang. Nội khoa Thành Đô
Bổ Khí Vận Tỳ Thang (Chứng Trị Chuẩn Thằng, q. 3): Bạch truật 12g, Nhân sâm 8g, Phục linh, Quất hồng đều 6g, Chích kỳ 4g, Sa nhân 3,2g, Chích thảo 1,6g. Thêm Gừng sống 1 lát, Táo 1 trái, sắc uống lúc đói.
(Nhân sâm, Hoàng kỳ, Phục linh, Bạch truật bổ khí, kiện Tỳ, Tuyền phúc hoa, Đại giả thạch thuận khí, giáng nghịch).
Bát Vị Địa Hoàng Hoàn, tùy chứng mà thêm Ngũ vị, Ngưu tất.
Nhận xét Trai trẻ dùng thuốc chữa đờm hỏa thì thương khỏi nhanh. Người lớn tuổi, khí huyết đã suy, nếu dùng thuốc có vị thơm, ráo (táo), vét hết đờm hỏa, tuy tạm khỏi nhưng bệnh sẽ trở lại. hoặc nặng thêm , có khi tử vong.

    III.CHÂM CỨU TRỊ NGHẸN
1.Cách du, Cự khuyết, Nội qua, Túc tam lý, Vị du. Châm bình
2.Trung khôi, Đại lăng, Túc tam lý.
3.Thực chứng: Chiên trung, Cự khuyết, Cách du, Tỳ du, Cách quan đều tả.
4.Hư chứng: Châm bổ Tỳ du, Khí hải, Cách du, Túc tam lý, Công tôn, châm tả Lao cung.
5.ĐIều trị theo bốn thể :
-Đờm trọc giao trở: Trung quản, Can du, Phế du, Cách du, Phong long, bổ Phục lưu. Châm tả
Ngực đầy thêm Chiên trung, Nội quan.
- Tân dịch suy, nhiệt kết: Vị du, Tỳ du, Túc tam lý, Chiếu hải, Phục lưu. Châm bổ
-Ứ Huyết Nội Kết: Cách du, Can du, Huyết hải, Tam âm giao, Túc tam lý. Châm tả hoặc bình
-Khí Hư, Dương Suy: Tỳ Thận. châm ôn bổ. Tỳ du, Vị du, Thận du, Quan nguyên, Phục lưu. Châm bổ
6. Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học
Châm Thiên đột, thẳng xuống, sâu 0,2 thốn, sau đó chuyển mũi kim xuống rồi dựa theo bờ trong sát xương ức xuống sâu 1 – 1,5 thốn. Khi đắc khí, cảm thấy tức nghẹt thì rút kim. Nếu không đắc khí, phải đợi đến khi đắc khí mới có hiệu quả.
Châm Thái xung 2 bên, châm xong bảo người bệnh nuốt. Khi đắc khí, lưu kim 20 phút, cứ 5 phút vê kim một lần. Vê kim 10 lần là được.
Nhĩ Châm: huyệt Thần môn, Vị, Thực đạo, Cách. Mỗi lần chọn 1-2 huyệt, kích thích vừa. Mỗi ngày châm một lần, 10 ngày là một liệu trình

BỆNH ÁN ĐIỂN HÌNH
(Trích trong ‘Trung Y Lâm Sàng Chẩn Liệu Bách Khoa Toàn Thư).

Chu X, nữ, đến tuổi trưởng thành.
Khám lần đầu : ăn uống không xuống, dễ đưa lên gây nôn, ợ hơi luôn, mỗi bữa ăn phải nhấm nháp tới hơn 2 giờ mới xong. Chẩn đoán Tây y ;Hẹp môn vị . Mạch trầm tế, rêu lưỡi trắng nhớt.
Dùng lý khí giáng nghịch thang: : Đại giả thạch 16g, Bán hạ, Toàn phúc hoa, Đương quy nn 12g, Hương Phụ, Hoắc hương, Tô ngạnh nn 8g, Trần bì 6g, Lương khương 3g, Cam thảo 4g.
Khám lần 2: chưa kiến hiệu, đại tiện táo.
Dùng lý khí giáng nghịch nhuận hạ thang: Đại giả thạch, Qua lâu nhân nn 16g, Đương quy, Bạch thược, Toàn phúc hoa nn 12g, Bá tử nhân, Chỉ xác nn 8g, Cam thảo 4g.
Sau khi uống thuốc, ăn uống vào dễ hơn.
Thêm Úc lý nhân, Hạnh nhân, Hỏa ma nhân, mỗi bữa ăn đã nhanh hơn được nửa giờ.
Khám lần cuối đổi dùng Đại Bán Hạ Thang, khỏi bệnh.
Nhận xét: Bệnh lý ế cách là nhiệt kết, tân dịch khô, cho nên điều trị mới dùng phép lý khí giáng nghịch, chưa thấy kết quả; lần khám thứ hai thêm các vị thuốc nhuận hạ, mới thấy hiệu quả.

Bành X, nam, 40 tuổi.
Đầu 1968, nuốt nghẽn ở môn vị không xuống, nôn ra như nước đậu đỏ, đại tiện như phân dê, bệnh kéo dài đã 3 – 4 tháng, gầy còm quá mức, mạch Trì Hoãn Tế Nhược, rêu lưỡi khô ráo không có tân dịch. Bệnh thuộc phủ nhiệt táo kết, nung đốt tân dịch, dương thịnh ở trên, âm cạn ở dưới, tân dịch khô mà huyết cũng thiếu, đến nỗi bí môn và u môn khô ráo; Theo phép nhuận táo thông u,
Dùng Ngũ Nhân Hoàn gia giảm . Đương quy 32g, Hỏa ma nhân 24g, Sa sâm, Mạch đông, Qua lâu 16g,Chỉ thực, Bán hạ, Đông quỳ tử nn12g. Sắc lấy nước đặc, lại hòa vào 1 chén nước lá hẹ, cho uống. Sau 10 thang kết quả rõ rệt; sau 20 thang, khỏi bệnh.
Nhận xét: Táo nhiệt tổn hại phần âm, tân dịch và huyết khô khan, đến nỗi ăn vào bị nghẹn – ngăn cách, trên dưới không thông, phát sinh ế cách. Dùng thuốc dưỡng âm nhuận táo có thêm thuốc tân khai khổ giáng nhờ đó mà tân dịch được gia tăng, ăn uống khá hơn, phủ khí thông lợi, khắc phục được tình trạng hư yếu gầy còm.

Trần X, nam, 44 tuổi.
Hơn 2 tháng nay, nuốt khó, ăn vào lại nôn ra, hình thể khô đét, đại tiện như phân dê
Bệnh viện chẩn đoán Ung thư ở đoạn 1/3 thực quản, tính từ dưới lên, kích thước 0,8mm x 9mm. Sinh thiết 3 lần, xu thế bệnh tiến triển. Hình thể gầy còm, ăn bị tắc nghẽn, nằm xuống càng nghẽn, táo bón, mạch Huyền Sác.
Dùng tư âm ích Vị, tán kết thang Bạch hoa xà thiệt thảo 80g, Bán chi liên 40g, Hoài sơn 32g, Sa sâm, Ngọc trúc Côn bố Hạ khô thảo nn 20g, Mạch đông,Toàn phúc hoa 12g, Thanh bì 8g,
Tái khám sau khi uống liên tục trên ba tháng thang trên có gia giảm, chứng trạng giảm rất nhiều. phần trên và giữa thực quản bình thường, phần dưới nới dãn tốt;
Củng cố kết quả, điều trị tiếp.
Bảy năm nay, thăm hỏi nhiều lần thể chất khỏe mạnh như xưa, đã lao động được công việc nặng.

                                 BS  Phạm Thị Mai
    Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng  


CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn