THOÁI HOÁ CỘT SỐNG » Cột Sống Cổ

BỆNH THOÁI HOÁ CỘT SỐNG CỔ


Chữa Thoái Hoá Côt Sống  - BS Phạm Thị Mai : Cột sống bị thoái hoá sớm hơn và nặng hơn so với quá trình lão hoá xương được gọi là bệnh thoái hoá cột sống. Bệnh gây ra do bẩm tố bệnh lý đã có sẵn trong cột sống hoặc  các yếu tố vận động, dinh dưỡng... xấu làm cho cột sống bị tích luỹ những tổn thương và để lại những hậu quả biến chứng rất tai hại  


 BỆNH THOÁI HOÁ CỘT SỐNG CỔ

Chữa Thoái Hoá Côt Sống 
-
 BS Phạm Thị Mai 

     Cột sống bị thoái hoá sớm hơn và nặng hơn so với quá trình lão hoá xương được gọi là bệnh thoái hoá cột sống. Trên lâm sàng thường xếp chung bệnh thoái hoá cột sống với bệnh lão hoá xương do tuổi già . Bệnh gây ra do bẩm tố bệnh lý đã có sẵn trong cột sống hoặc  các yếu tố vận động, dinh dưỡng... xấu làm cho cột sống bị tích luỹ những tổn thương và để lại những hậu quả biến chứng rất tai hại    

  Bệnh thoái hoá cột sống rất phổ biến. Theo TS.BS Võ Xuân Sơn / GĐTT Exson có 2/3 dân số Mỹ bị thoái hóa cột sống, ở Việt nam tỷ số này chắc chắn cao hơn. Theo thống kê Bộ LĐ -TB XH cùng Bộ Y tế  nhóm tàn phế do bệnh này đứng đầu trong tất cả các nhóm tàn phế do các nguyên nhân khác, chiếm 29,75 % ( nam) và 46,11 % ( nữ). 
   
   Thoái hoá cột sống cổ thường xảy ra ở nhóm tuổi lao động 30 – 50 tuổi, trong các ngành nghề, bị tác động lực vào cột sống cổ nhiều và kéo dài. 

I. NGUYÊN NHÂN THOÁI HOÁ CỘT SỐNG 
    Do cột sống chịu lực nâng đỡ toàn thân và các tác động lực trong lao đông, sinh hoạt nên dễ bị hư hỏng, nhất là các đoạn đốt sống cổ và thắt lưng bị chịu lực nhiều hơn cả. Các cấu trúc côt sống bị tổn thương thoái hoá có ảnh hưởng đến các cấu trúc liên quan liên quan, gây ra các bệnh lý rất phức tạp và đa dạng. Ngược lại các cấu trúc liên quan giải phẫu với cột sông mà bị bệnh cũng ảnh hưởng đến bệnh lý cột sống. 
    Theo thời gian (tích tuổi), do bẩm tố (di truyền) của cột sống đã yếu sẵn, tuỳ giới tính, lối sống ( ăn uống, dưỡng sinh, vận động, lao động ...)  mà cột sống có mức độ thoái hoá khác nhau bền chắc hay thoái hóa sớm. Các nguyên nhân và yếu tố sau đây thường phối hợp với nhau gây bệnh : 

1.Tuổi tác : lão hóa xương bắt đầu từ 30 -35  tuổi trở đi. Tốc độ lão hóa xương tăng dần theo tuổi tác .
2. Vóc dáng : người nhỏ con, thấp bé nhẹ cân và người có dáng quả tá bụng to, thừa cân mập bệu dễ  bị loãng xương, hư xương cột sống hơn những người to cao lực lưỡng, cân đối, cơ bắp phát triển săn chắc  
3. Giới tính : Phụ nữ trong độ tuổi mang thai và cho con bú, không được bồi dưỡng canxi và các chất tạo xương. Nam giới: sau 40-50 tuổi nội tiết sinh dục testosterone và thượng thân suy giảm sớm, ảnh hưởng đến tái tạo cấu trúc xương. 
4. Chấn thương cột sống : do tai nạn giao thông, lao động, thể thao, sinh hoạt…
5.Vi sang chấn kéo dài  : các tác động lực kéo dài khi đi lại, chạy nhảy, mang vác, tư thế xấu làm cột sống dễ bị tổn thương hơn.  
Như công việc lái xe lái tàu đường dài, làm việc với máy tính lâu, công nhân khuân vác, thợ làm tóc, nha sĩ, thợ sơn trần… Béo phì, quá nặng cân.
 6.Lối sống không khoa học
- Dinh dưỡng thiếu: calci , phospho, vitamin D, C, PP và vi khoáng Zn, Mangan. Mất cân đối trong khẩu phần ăn các chất đạm- mỡ- đường. Dùng nhiều rượu,  bia, cà phê ...
Lười hoạt động thể lực.
- Nguồn ánh sáng mặt trời : nhà ở, phòng làm việc không bảo đảm độ chiếu sáng hoặc ít đi ra ngoài trời.
7. Bẩm sinh và di truyền
 -Dị tật bẩm sinh: gai đôi cột sống, gù vẹo, hẹp ống sốngdị dạng đốt sống, quá ưỡn cột sống thắt lưng… 
- Bệnh di truyền: loạn dưỡng sụn, tổn thương đĩa đệm và thoái hóa cột sống do di truyền  

II. NGUYÊN NHÂN THOÁI HOÁ CỘT SỐNG CỔ 
    Thoái hoá cột sống cổ có các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ trên, ngoài ra còn có nhữn đăc điểm bệnh lý riêng do có những khác biệt về cấu trúc và chức năng :  
    Các khớp đốt sống cổ có cấu trúc rất nhỏ yếu nhưng lại chịu lực nhiều và lớn. Các lực đó là : lực tác động từ đầu xuống và toàn thân lên, lực bản lề ( xoay, cúi, ngửa, nghiêng) nên dễ bị hư hỏng hơn cột sống các đoạn khác.
     Trong đó C5 - C6 bị tổn thương nhiều nhất. Đoạn cột sống cổ cong ra trước ở C5 - C6 lại di động nhiều và nếu lực tác động không đều trên bề mặt khớp ( do tư thế lệch hoặc do đầu cúi lâu , khớp sẽ bị tổn thương, thoái hoá sớm nhất so với các khớp đốt cổ nơi khác. Khớp bán nguyệt ( khớp mỏm móc): Mặt trên thân đốt  từ C3 đến C7  có khớp bán nguyệt là khớp giả, rất yếu, dễ bị thoái hoá, chèn vào động mạch đốt sống . 

III.  THOÁI HOÁ CÁC CẤU TRÚC CỘT SỐNG CỔ

     Cột sống của con người là trụ cột và khung đỡ của cơ thể. Cột sống có 24 đốt sống, được chia 4 đoạn: Cervical C1 – C7; Dorsal  D1 – D12; Lumbar  L1 – L5;  Sacrum and Coccy S1 – S4 - xương cụt .
     Cột sống cổ có hình dạng hơi cong ưỡn ra trước, có cấu trúc phù hợp để giữ và vận động đầu.Cột sống cổ có 7 đốt ( từ C1 đến C7),  6 đĩa đệm. Các thành phần cấu trúc của cột sống cổ còn liên quan giải phẫu và chức năng đến nhiều thành phần khác ( tuỷ, rễ thần kinh, hạch thần kinh, mạch máu ).
1. Đốt sống cổ : có kích thước và hình dạng khác nhau ở từng vị trí  trên cột sống. Mỗi người, mỗi độ tuổi, đốt sống cũng có hình dạng kích thước thay đổi ít nhiều. Cột sống cổ được chia 2 tầng: Tầng cổ cao C1 -C2 : C1 không có thân đốt, chỉ có hai cung xương và củ sau. Mặt trên C1, có 2 diện khớp ở trên. Giữa C1 và C2 không có đĩa đệm. C2  đặc biệt  có mỏm nha, giúp C1 quay quanh mỏm nha với biên độ rất rộng. Tầng cổ thấp C3 - C7 : cấu trúc đốt có thân đốt, cung xương, mảnh ( khối), gai sau, lỗ đốt sống, ống sống, mấu ngang có lỗ ngang, lỗ tiếp hợp ( lỗ ghép). Cấu trúc C3 - C7  gần giống với đoạn L1 - L5 , chỉ khác là có lỗ ngang.
  Thoái hoá thân đốt : biến dạng dẹt, phì đại có sự kết sợi xơ sụn, xơ xương và gai xương
Bề mặt đốt sống ( diện khớp liên đốt ) bị nứt, khuyết. Mảnh vụn của đĩa đệm dễ thoát vị vào khe khuyết này.

2. Các khớp : 
Khớp gian đốt  ở giữa có chứa đĩa đệm, Khớp Sống – Sống ( khớp mấu lồi ) :  Mấu lối dưới của thân đốt sống trên là chỏm , diện ổ khớp ở thân đốt sống dưới và mấu lối trên của đốt sống dưới là chỏm với diện ổ khớp ở thân đốt sống trên. Khớp bán nguyệt ( khớp mỏm móc): mặt trên thân đốt từ C3 đến C7 có thêm hai mỏm móc hay mấu bán nguyệt (cao 3,5mm). Khe khớp bán nguyệt là khớp giả nên rất yếu
Thoái hoá các khớp
    - Hẹp khe khớp liên đốt, làm dây chằng gian gai và mỏm gai kế cận sát nhau quá mức, tạo khớp giả gian gai và túi hoạt dịch ( biểu hiện nặng lên khi ữơn và giảm khi gập)
   - Khớp liên mấu:  phì đại mấu khớp, thoái hóa, bán trật khớp. Túi hoạt dịch chèn vào khớp liên mấu. Hình ảnh cánh bướm trên phim thẳng khớp liên mấu
   - Khớp mỏm móc : đĩa đệm dẹt, khe khớp hẹp, khớp mỏm móc quá tải và ép chặt vào nhau, làm sụn khớp bị mòn, kết sợi xơ sụn, xơ xương, thoái hóa, phì đại mấu khớp, gai xương, bán trật khớp và hẹp lỗ liên hợp. Nặng hơn khi hình thành túi hoạt dịch ngoại mạc chèn vào khớp

3. Đĩa đệm : nẳm trong khớp gian đốt. Đĩa đệm có chiều cao 3mm bằng 2/5 chiều cao thân đốt sống, cấu trúc gồm: vòng xơ, nhân nhầy và mâm sụn. Nhân của đĩa đệm cổ chiếm 45% chiều cao 3 mm của đốt sống cổ. Nhân đĩa đệm cổ luôn phải chịu sức nặng khoảng  5 – 7 kg của đầu, chưa kể đến các tác động lực khác. 
Đĩa đệm bị thoái hoá : do bao xơ đĩa đệm giòn và dễ nứt, rách. Nhân keo trong bao xơ cũng  bị mất nước dần và khô và phân mảnh. Đĩa đệm teo xẹp dần, mất tính đàn hồi. Bao xơ nứt ra nhân keo thoát ra một phần hay nặng thì toàn bộ. Nhân keo thoát vị  sâu vào  nơi khuyết lõm của mặt đốt sống  ( thoát vị dọc), hoặc thoát vị ngang sang một bên, khe đốt sống.

4. Các dây chằng : giữ liên kết các đốt sống, hạn chế sự chuyển động quá mức của cột sống và bảo vệ các thành phần trong ống sống, Dây chằng dọc trước  : bám ở mặt trước các thân đốt sống và đĩa đệm . Dây chằng dọc sau : nằm bên trong ống sống, bám ở mặt sau thân đốt và đĩa đệm. Ngoài ra còn có nhiều dây chằng KHÁC , nhiều nhóm cơ vừa tăng cường cho cột sống vững chắc vừa trợ lực cho các vận động của cổ…
Thoái hoá các dây chằng : Dây chằng liên đốt :  đĩa đệm xẹp xuống, khe khớp hẹp lại, làm chùng và gấp khúc các dây chằng nơi bám vào xương liên đốt, lâu ngày chúng bị lắng đọng calci  dày lên và tạo ra các gai xương. Dây chằng vàng : làm giới hạn cho cổ hay thắt lưng khi gập và duỗi. Dây chằng vàng bị vôi hoá, phì đại ảnh hưởng đến tuỷ sự vận đông nơi cổ hay thắt lưng. Dây chằng liên gai: Hẹp khe khớp làm dây chằng liên gai thừa ra. Lâu ngày chúng cứng dòn, to sần sùi, hoá cầu xương, dải xương. Chúng choán chỗ làm hẹp ống sống. Hẹp khe khớp cũng làm cho các mỏm gai sau cùng dây chằng liên gai cọ sát nhau quá mức, hình thành nên khớp giả gian gai. Dây chằng dọc:  viêm dày và lắng đọng canxi  dây, làm hẹp các lỗ ra của các rễ thần kinh  

5. Các lỗ và ống trong cột sống cổ : 
 hai lỗ ngang nằm trên 2 mỏm ngang, có động mạch đốt sống đi qua . Hai Lỗ liên hơp ( lỗ tiếp hợp) nằm 2 bên gian cạnh đốt,  là 1 khoang xương hình bầu dục, bên trong chứa đầy dịch não tủy, mỡ mô liên kết, có mạch máu, rễ thần kinh đi qua . Ống sống:  được tạo thành bởi các lỗ . mà thành của nó là n thân đốt, các cuống và cung sau đốt sống. Bên trong ống sống chứa tuỷ , các rễ thần kinh, màng nhện, màng cứng và các mạch máu nuôi tuỷ. Ngoài màng cứng là mô mỡ và các tĩnh mạch
Lỗ liên hợp hẹp
 : Bình thường lỗ liên hợp hình bầu dục chứa đầy dịch não tủy và mỡ. Lỗ liên hợp L4-L 5 và cột sống cổ hay bị hẹp nhất. Nguyên do gai xương, phì đại xơ cứng dây chằng, dính màng nhện, đĩa đệm thoát vị …choán chỗ rễ thần kinh và mạch máu bị nhốt kẹt trong đó, các mô trong và xung quanh rễ thần kinh bị mất mỡ, gây ra :
 Viêm các mô trong lỗ liên hợp . Rễ thần kinh bị chèn gây ra hội chứng rễ. Động mạch bị nghẽn, cung cấp máu tới các mô xương sụn, đĩa đệm và mô thần kinh ( tuỷ, rễ thần kinh) giảm, gây HC động mạch đốt sống. Nếu huyết khối, gây HC uỷ rất nặng nề
Hẹp ống sống : do thoái hoá phần xương đốt sống, dây chằng thoát vị  đĩa đệm…  có thể kết hợp với trượt đốt sống, hay mất độ cong sinh lý. Biến chứng chèn ép tuỷ và nặng hơn thì tổn thương tuỷ. Thường gặp nhất ở vùng L4 - L5 , và vùng đót sóng cổ

III. CÁC BIẾN DẠNG CỘT SỐNG 
    Mất đường cong sinh lý và mất vững: do dẹt đĩa đệm, hẹp khe khớp, dây chằng vàng chùng xuống hay uốn khúc
   Trượt đốt sống :Trượt ra sau thường do thoái hoá đĩa đệm, hẹp ống sống hoặc hẹp lỗ liên hợp.Trượt ra trước thường do thoái hoá khớp liên mấu ở L4-5 .Trượt sang bên và trượt xoay thường do thoái hoá mấu khớp bất đối xứng.
   Vẹo cột sống : do thoái hoá đĩa đệm không đối xứng, làm tải bất đối xứng tăng lên, tăng thoái hoá ở vùng hấp thu lực tải nặng nhất.
   Gù cột sống ngực:  do gãy xẹp loãng xương,  do thoái hoá ( dạng bất đối xứng). BN đi hơi ngả người về phía trước để chống đau, lâu dần thành gù.        

IV. CÁC CẤU TRÚC LIÊN QUAN ĐẾN CỘT SỐNG CỔ  
- Tuỷ sống  đoạn cổ hơi giống hình thoi. Dây thần kinh từ tuỷ chạy ra ngoài, đến lỗ tiếp hợp thì chia hai rễ. Rễ vận động ở phía trước sát với khớp bán nguyệt. Rễ cảm giác ở phía sau sát với khớp Sống – Sống.
- Các rễ thần kinh : 
         C1 –  C4  : bốn cặp rễ trước tạo thành đám rối thần kinh cổ, chi phối cho da, cơ vùng đầu và cổ.
         C1 -_C2   tạo thành dây thần kinh : cổ lớn, chẩm bé, tai lớn, xuyên da cổ và dây trên đòn. 
         C5 - D1:  tạo thành đám rối thần kinh cổ – vai, cho ra các dây vận động và cảm giác của chi trên và vai gáy.
-Dây thần kinh theo khoanh tuỷ cổ  : 
      Dây vận động : 8 cặp dây tuỷ cổ từ 8 khe khớp C1 - D1, đi qua lỗ tiếp hợp tạo thành đám rối thần kinh cánh tay. Chi phối vận động các cơ  cột sống, thang và ức đòn chũm;
Đám rối cổ sâu chi phối cơ : Cơ dưới móng = C2 C3. Cơ hoành = C3 C4 C5. Cơ ( Delta , tròn nhỏ, trên gai, dưới gai ) = C5.Cơ
Nhị đầu, cánh tay trước = C6. Cơ tam đầu = C7. Cơ gấp ngón tay = C8
      Dây phản xạ gân xương : Cơ nhị đầu = C5. Cơ  nhị đầu, trâm quay= C6. Cơ tam đầu =  C7 
      Dây cảm giác: chi phối cột sống cổ, các thành phần trong ống sống, tuỷ sống : các nhánh thần kinh từ các hạch giao cảm cạnh sống tạo thành dây quặt ngược chui trở lại qua lỗ gian đốt vào ống sống. Nửa sau đầu = C1 C2 C3 . Vai := C4.  Nửa quay của cánh -cảng – bàn tay = C5 C6 C7. Nửa trụ của cánh -cảng – bàn tay  = C8 D1     
-  Dây thần kinh ngoại vi
  được hình thành bởi rễ trước và rễ sau tiến sát nhau hợp thành dây thần kinh rễ, qua hạch gai đến dây thần kinh sống. Ra khỏi lỗ gian đốt, các dây thần kinh tuỷ sống chia ra :
- Nhánh sau phân bố cho các cơ chẩm, cơ lưng, da mặt sau cổ và lưng; nhánh trước phân bố cho các cơ, da phần trước thân và chi.
- Những nhánh của các khoanh tuỷ cổ, tuỷ thắt lưng và tuỷ cùng kết hợp với nhau một cách nhất định, họp thành những bó của đám rối: cổ, cánh tay, thắt lưng, cùng. Từ đây hình thành các dây thần kinh ngoại vi.
   Những dây thần kinh tuỷ sống ngoại vi, trong đa số trường hợp là hỗn hợp, nó bao gồm những sợi vận động của các rễ trước (axon các tế bào sừng trước), những sợi cảm giác (đuôi gai các tế bào hạch gian đốt) và các sợi vận mạch, bài tiết, dinh dưỡng (giao cảm và phó giao cảm) đi từ những tế bào tương ứng của chất xám tuỷ sống và những hạch chuỗi giao cảm cạnh sống.
 Hạch thần kinh giao cảm cổ : có 2 chuỗi, được phân bố làm 3 chi nhánh thần kinh thực vật : một nhánh  cho đầu mặt cổ ,một nhánh cho hai tay và một nhánh cho tim và các nội tạng khác, tác động đến tuần hoàn, tuyến mồ hôi và nang lông. 
Động mạch đốt sống : Hai động mạch đốt sống chạy xuyên bên trong các lỗ mỏm ngang . Khi qua C1, chúng hợp thành động mạch thân nền, đi vào hộp sọ, cấp máu cho phần sau của bộ não. Do vận tốc lưu thông kém và tuần hoàn bàng hệ kém, nên so với hệ động mạch cảnh, chúng yếu hơn rất nhiều.  Sự chít hẹp các lỗ mỏm ngang, trong thoái hoá cột sống cổ, chèn ép động mạch đốt sống, dễ gây thiểu năng tuần hoàn não. 

V
. ĐẶC ĐIỂM CỦA THOÁI HOÁ VÀ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ       

   - Thoát vị đĩa đệm cổ thường đi kèm với các tổn thương thoái hoá cột sống cổ
   - Các hội chứng, triệu chứng đa dạng hơn rất nhiều so với thoái hoá cột sống thắt lưng : HC rễ dây thần kinh, HC tuỷ cổ, HC động mạch tuỷ cổ, HC rối loạn giao cảm cổ …
   - Đa số thoái hoá trên nhiều đốt sống, cho nên,các triệu chứng thường xảy ra lan toả hơn
   - Những dấu hiệu định khu không luôn điển hình, thậm chí còn có những biểu hiện triệu chứng khác lạ, dễ chẩn đoán nhầm.

VI. CÁC BỆNH LÝ CÔT SỐNG CỔ VÀ CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN  ĐẾN CỘT SỐNG CỔ 
MỜI BẠN XEM BÀI :

CÁC HỘI CHỨNG CỔ ( 13-01-2019 )

VII. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT 

TẠI CỘT SỐNG CỔ

1.Chấn thương cột sống cổ

    - Do động tác quá cúi gập cổ đột ngột . Gây dãn ở phía sau và ép cột sống ở phía trước. Có thể gãy đốt sống, rách vòng sợi phía sau, dãn dây chằng dọc sau và dây chằng liên Gai. Các cơ ở vùng gáy có thể bị rách, đứt, tạo bọc máu tụ. Động mạch đốt sống cũng có thể bị tổn thương do bị chèn ép.

    - Do động tác quá ưỡn cổ ra sau đột ngột. Gây quá căng phần mềm và đĩa đệm phía trước. Có thể bị bọc máu tụ sau hầu ( nuốt đau), gãy các mỏm khớp đốt sống, sai khớp đốt sống tại chỗ, HC cổ cục bộ hoặc tổn thương dây thần kinh chẩm lớn( đau  vùng chẩm, cứng gáy, hạn chế vận động cổ) .

    - Chấn thương do văng quật : gây sai khớp, gãy xương, đau vùng gáy, hạn chế tầm vận động cột sống cổ. HC cổ đầu sau chấn thương ( đau gáy dữ dội và đau thần kinh chẩm, động mạch đốt sống cổ bị chèn ép gây thiểu năng tuần hoàn vùng sau não. Chụp X quang thường quy và MRI cho chẩn đoán xác định.

2.  Lao cột sống cổ:  có tiền sử lao phổi,  toàn thân suy sụp dần, HC  nhiễm độc do lao.  Đau cột sống cổ có tính chất tăng dần và lan ra các chi. Đơ nghiêng cổ ở một tư thế do co cứng các cơ ở cổ.. Chụp X quang thường quy, CT hoặc MRI cho chẩn đoán xác định.

3. Cốt tuỷ viêm cột sống cổ.
4. Viêm xương khớp nhiễm khuẩn khu trú ở cổ.

VÙNG LÂN CẬN  CỘT SỐNG CỔ

1. Viêm quanh khớp vai : thuộc nhóm bệnh  bệnh hư khớp. Thường xảy ra ở người trên 40 tuổi do chấn thương hoặc vi chấn thương khớp vai. Đau ở vai tăng dần dần, nhất là khi dang tay và xoay cánh tay vào trong hoặc giơ tay lên đầu. Đau lan toả từ mỏm vai tới cánh tay, hạn chế vận động khớp vai rõ rệt, dấu hiệu  “khoá cứng” khớp vai. Đôi khi tổn thương lan rộng xuống gây rối loạn vận động và loạn dưỡng ở bàn tay. Chụp X quang khớp vai để chẩn đoán.

2.Hội chứng khe cơ bậc thang: Trong khoang hẹp giữa các cơ bậc thang trước và giữa có dây thần kinh cổ, các thân nhì của đám rối thần kinh cánh tay và động mạch dưới đòn đi qua.. Đau và  dị cảm vùng da mặt trong cánh tay, cẳng tay, bàn tay và ngón 4, 5, đôi khi lan đến vùng chẩm. Đau đặc biệt tăng lên khi xoay đầu về phía tay bị đau hoặc hít thở sâu. Trường hợp cơn đau lan tới ngực dễ nhầm với cơn đau thắt ngực . Yếu cơ, teo cơ ở tay và mô út.  Căng các cơ ở cổ, nhất là cơ bậc thang trước.  Rối loạn vận mạch ở tay, tay tím tái, phù nề, lạnh đầu chi, nếu nặng thấy mất mạch quay.

BỆNH LÝ KHÁC

1.Do stress : căng thẳng , buồn phiền hay lo lắng quá mức và kéo dài . Kèm theo các dấu hiệu của tình trạng strees là đau mỏi gáy vai và phần trên lưng, đau dọc theo cơ cạnh cổt sống.
2. Đau cơ vai gáy do lạnh :khi  thời tiết chuyển lanh đột ngột, làm việc trong trong môi trường lạnh,  để máy điều hòa nhiệt độ quá thấp, thợ lặn, người làm trong nhà đông đá bảo quản thực phẩm…
3. Cảm cúm trong những ngày đầu: thường có triệu chứng đau mỏi vai gáy  do hoạt động tiết đoạn thần kinh của hạch giao cảm vùng này để đối phó với tác nhân gây bệnh. Đông y cho rằng do hàn, thấp xâm nhập vào kinh thủ thái âm phế nên vai gáy mỏi đau

 Chữa Thoái Hoá Côt Sống 
-
 BS Phạm Thị Mai 



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn