THOÁI HOÁ CỘT SỐNG » GiảỈ Phẫu Sinh Lý Bệnh

NGUYÊN NHÂN BỆNH THOÁI HOÁ CỘT SỐNG


Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp -  BS Phạm Thị Mai : NGUYÊN NHÂN BÊNH THOÁI HOÁ CỘT SỐNG Cột sống bị thoái hoá sớm hơn và nặng hơn so với quá trình lão hoá xương được gọi là bệnh thoái hoá cột sống. Bệnh gây ra do bẩm tố bệnh lý đã có sẵn trong cột sống hoặc  các yếu tố vận động, dinh dưỡng... xấu làm cho cột sống bị tích luỹ những tổn thương và để lại những hậu quả biến chứng rất tai hại  


 NGUYÊN NHÂN BỆNH THOÁI HOÁ CỘT SỐNG
Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp 
-
 BS Phạm Thị Mai 

     Cột sống bị thoái hoá sớm hơn và nặng hơn so với quá trình lão hoá xương được gọi là bệnh thoái hoá cột sống. Bệnh gây ra do bẩm tố bệnh lý đã có sẵn trong cột sống hoặc  các yếu tố vận động, dinh dưỡng... xấu làm cho cột sống bị tích luỹ những tổn thương và để lại những hậu quả biến chứng rất tai hại  

I. THOÁI HOÁ CỘT SỐNG LÀ GÌ

    Bệnh thoái hoá cột sống là tình trạng cột sống bị thoái hoá sớm hơn và nặng hơn so với quá trình lão hoá xương.Trên thực tế lâm sàng thường gộp chung nhóm bệnh này với thoái hoá cột sống do tuổi già.Thoái hoá cột sống rất phổ biến. Theo TS.BS Võ Xuân Sơn / GĐ TT Exson  2/3 dân số Mỹ bị thoái hóa cột sống,ở Việt nam tỷ số này chắc chắn cao hơn  

     Bệnh mãn tính diễn ra trong thời gian dài, nếu không điều trị, sẽ  nặng.  Đau đớn kéo dài, liệt, tàn phế là  hậu quả ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt, gánh nặng chăm sóc cho gia đình và xã hội, tốn kém tiền bạc. Theo thống kê Bộ LĐ -TB XH cùng Bộ Y tế  nhóm tàn phế do bệnh này đứng đầu trong tất cả các nhóm tàn phế do các nguyên nhân khác, chiếm 29,75 % ( nam) và 46,11 % ( nữ).

II.CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG SINH LÝ  
Cột sống của con người là trụ cột, là khung đỡ của cơ thể.
1.Các đốt sống : có 24 đốt sống từ đáy hộp sọ đến sát hậu môn, được chia 4 đoạn.  Cervical từ C1 – C7
Dorsal từ D1 – D12 . Lumbar từ L1 – L5. Sacrum and Coccy : từ S1 – S4 đến xương cụt
2.Đĩa đệm : các đốt sống xếp chồng lên nhau, giữa các đốt sống là đia đêm.
3.Dây chằng : gồm các dây chằng liên đốt. Dây chằng đĩa đệm với đốt sống.  Dây chằng dọc, dây chằng vàng cùng với hệ thống cơ cạnh cột sống chịu lực hỗ trợ đắc lực cho cột sống
4. Các cấu trúc liên quan:  tuỷ sống, rễ dây thần kinh, hạch thần kinh, thần kinh giao cảm và mạch máu nẳm trong cột sống và sát bên cạnh sống, rất quan trọng đối với cột sống  về sinh lý . 

III.SINH LÝ BỆNH
 Do cột sống chịu lực nâng đỡ toàn thân và các tác động lực trong lao đông , sinh hoạt nên dễ bj hư hỏng , nhất là đối với những người bẩm tố cột sống đã yếu sắn. Ảnh hưởng của thoái hoá cột sống đến các cấu trúc liên quan với cột sống (nói trên)  đã giải thích các bệnh lý tuỷ sống, dây thần kinh ngoại biên, rối loạn giao cảm …rất đa dạng. Ngược lại các mô , cấu trúc liên quan giải phẫu với cột sông mà bị bệnh , cũng ảnh hưởng đến bệnh lý cột sống 

IV. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

    Theo thời gian, do bẩm tố của cột sống đã yếu sẵn, hay chứa đựng các tổn thương thoái hoá âm thầm theo tuổi tác, thì các tác động lực kéo dài khi đi lại, chạy nhảy, mang vác, tư thế xấu làm cột sống dễ bị tổn thương hơn. 
    Tùy theo độ tuổi, giới tính, yếu tố di truyền, lối sống ( ăn uống, dưỡng sinh, vận động, lao động)  mà cột sống bền chắc hay thoái hóa sớm.

1.Tuổi tác : lão hóa xương bắt đầu từ 30 -35  tuổi trở đi. Tốc độ lão hóa xương tăng dần theo tuổi tác .
2. Vóc dáng :  người nhỏ con, thấp bé nhẹ cân và người có dáng quả tá bụng to, thừa cân mập bệu dễ  bị loãng xương, hư xương cột sống hơn những người to cao lực lưỡng, cân đối, cơ bắp phát triển săn chắc  
3. Giới tính : Phụ nữ trong độ tuổi mang thai và cho con bú, không được bồi dưỡng canxi và các chất tạo xương. Nam giới: sau 40-50 tuổi nội tiết sinh dục testosterone và thượng thân suy giảm sớm, ảnh hưởng đến tái tạo cấu trúc xương. 
4. Chấn thương cột sống : do tai nạn giao thông, lao động, thể thao, sinh hoạt…
 5.Vi sang chấn kéo dài, do : Tư thế ngồi, tư thế làm việc có hại cho cột sống : lái xe lái tàu đường dài, làm việc với máy tính lâu, công nhân khuân vác, thợ làm tóc, nha sĩ, thợ sơn trần… Béo phì, quá nặng cân.
 6.Lối sống không khoa học
- Dinh dưỡng thiếu: calci , phospho, vitamin D, C, PP và vi khoáng  Zn, Mangan. Mất cân đối trong khẩu phần ăn các chất đạm- mỡ- đường. Dùng nhiều rượu,  bia, cà phê ...
- Vận động : kém hoạt động thể lực.
- Nguồn ánh sáng mặt trời : nhà ở, phòng làm việc không bảo đảm độ chiếu sáng hoặc ít đi ra ngoài trời.
7. Bẩm sinh và di truyền
 -Dị tật bẩm sinh: gai đôi cột sống, gù vẹo, hẹp ống sống, dị dạng đốt sống, quá ưỡn cột sống thắt lưng… 
- Bệnh di truyền: loạn dưỡng sụn, tổn thương đĩa đệm và thoái hóa cột sống do di truyền

IV. CÁC TỔN THƯƠNG THOÁI HOÁ CỘT  SỐNG
Sau đây là cơ chế gây thoái hoá các bộ phận ( xương, sụn, tổ chức liên lết)  trong cấu trúc của cột sống bị thoái hoá

1.Đĩa đệm : bị thoái hoá do bao xơ đĩa đệm giòn và dễ nứt, rách. Nhân keo trong bao xơ cũng  bị mất nước dần và khô và phân mảnh. Đĩa đệm teo xẹp dần, mất tính đàn hồi. Bao xơ nứt ra nhân keo thoát ra một phần hay nặng thì toàn bộ. Nhân keo thoát vị  sâu vào  nơi khuyết lõm của mặt đốt sống  ( thoát vị dọc), hoặc thoát vị ngang sang một bên, khe đốt sống.

2.Đốt xương sống
-  Khớp liên thân đốt :
        Diện khớp bị nứt, khuyết. Mảnh vụn của đĩa đệm dễ thoát vị vào khe khuyết này.
        Đốt sống biến dạng dẹt, phì đại có sự kết sợi xơ sụn, xơ xương và gai xương.
        Hẹp khe khớp làm các mỏm gai sau, dây chằng gian gai và mỏm gai kế cận sát nhau quá mức, tạo thành khớp giả gian gai và túi hoạt dịch ( biểu hiện nặng lên khi ữơn và giảm khi gập)
- Khớp liên mấu:
        Phì đại mấu khớp, thoái hóa, bán trật khớp.
        Túi hoạt dịch chèn vào khớp liên mấu. Hình ảnh cánh bướm trên phim thẳng khớp liên mấu
 - Khớp mỏm móc ( đốt sống cổ) :
         Đĩa đệm dẹt, khe khớp hẹp, khớp mỏm móc quá tải và ép chặt vào nhau, làm sụn khớp bị mòn, kết sợi xơ sụn, xơ xương, thoái hóa, phì đại mấu khớp, gai xương, bán trật khớp và hẹp lỗ liên hợp. Nặng hơn khi hình thành túi hoạt dịch ngoại mạc chèn vào khớp

3. Dây chằng 
-Dây chằng liên đốt :  đĩa đệm xẹp xuống, khe khớp hẹp lại, làm chùng và gấp khúc các dây chằng nơi bám vào xương liên đốt, lâu ngày chúng bị lắng đọng calci  dày lên và tạo ra các gai xương.
-Dây chằng vàng : làm giới hạn cho cổ hay thắt lưng khi gập và duỗi. Dây chằng vàng bị vôi hoá , phì đại ảnh hưởng đến tuỷ sự vận đông nơi cổ hay thắt lưng
-Dây chằng liên gai:
        Hẹp khe khớp làm dây chằng liên gai thừa ra. Lâu ngày chúng cứng dòn, to sần sùi, hoá cầu xương, dải xương. Chúng choán chỗ  làm hẹp ống sống.
        Hẹp khe khớp cũng làm cho các mỏm gai sau cùng dây chằng liên gai cọ sát nhau quá mức, hình thành nên khớp giả gian gai
- Dây chằng dọc:  viêm dày và lắng đọng canxi  dây, làm hẹp các lỗ ra của các rễ thần kinh  

4.Lỗ liên hợp hẹp 
Bình thường lỗ liên hợp hình bầu dục chứa đầy dịch não tủy và mỡ. ỗ liên hợpL4-L 5 và  cột sống cổ hay bị hẹp nhất, Nguyên do  gai xương, phì đại xơ cứng dây chằng, dính màng nhện, đĩa đệm thoát vị …choán chỗ rễ thần kinh và mạch máu bị nhốt kẹt trong đó, các mô trong và xung quanh rễ thần kinh bị mất mỡ và viêm.
- Rễ thần kinh bị chèn gây ra hội chứng rễ 
- Động mạch bị nghẽn, cung cấp máu tới các mô xương sụn, đĩa đệm và mô thần kinh ( tuỷ, rễ thần kinh) giảm, gây HC động mạch đốt sống. Nếu huyết khối, gây HC uỷ rất nặng nề
 - Viêm các mô trong lỗ liên hợp 

5. Hẹp ống sống : do thoái hoá phần xương đốt sống, dây chằng thoát vị  đĩa đệm…  có thể kết hợp với trượt đốt sống, hay mất độ cong sinh lý. Biến chứng chèn ép tuỷ và nặng hơn thì tổn thương tuỷ. Thường gặp nhất ở vùng L4 - L5 , và vùng đót sóng cổ

 V. CÁC BIẾN DẠNG CỘT SỐNG 

1.Mất đường cong sinh lý và mất vững: 
Thoái hoá đĩa đệm làm hẹp khe khớp và dây chằng vàng chùng xuống hay uốn khúc, một đoạn cột sống bị mất đường cong sinh lý và mất vững.
2.Trượt đốt sống :Trượt ra sau thường do thoái hoá đĩa đệm, hẹp ống sống hoặc hẹp lỗ liên hợp.Trượt ra trước thường do thoái hoá khớp liên mấu ở L4-5 .Trượt sang bên và trượt xoay thường do thoái hoá mấu khớp bất đối xứng.
3.Vẹo cột sống : do thoái hoá đĩa đệm không đối xứng, làm tải bất đối xứng tăng lên, tăng thoái hoá ở vùng hấp thu lực tải nặng nhất.
4. Gù cột sống ngực: Schneider và cộng sự đã qui 20% gù cột sống ở bệnh nhân do gãy xẹp loãng xương, so với 50% do thoái hoá ( dạng bất đối xứng) Trong quá trình bị bệnh duỗi cột sống quá sẽ gây đau nên bệnh nhân có tư thế đi hơi ngả người về phía trước và xảy ra hiện tượng gù         

                                                                                                        



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn