CÁC CHỨNG TÊ LIỆT » Tai Biến Mạch Máu Não

NGUYÊN NHÂN ĐỘT QUỴ VÀ PHÒNG BỆNH


Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp BS Mai : CƠ CHẾ XUẤT HUYẾT NÃO là  vỡ mạch não ,vỡ phình mach não , máu tràn ra cùng với khối tụ máu gây tổn thương cho các tế bào não và tăng áp lực nội sọ . CƠ CHẾ NHŨN  NÃO  là tình trạng tắc mach máu não tại chỗ,  hoặc nghẽn mạch từ xa, hoặc áp lực máu suy giảm đột ngột  làm một vùng nhu mô não thiếu oxy  và hoại tử .Đột quỵ não gây tổn thương nhu mô não với hai nhóm nguyên nhân xuất huyết não và nhồi máu não . Các nguyên nhân thường phối hợp nhau gây đột quỵ

NGUYÊN NHÂN ĐỘT QUỴ VÀ PHÒNG BỆNH 
Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp BS Mai 

   Não chỉ chiếm khoảng 2% khối lượng cơ thể nhưng tiêu thụ 20% lượng oxy trong máu, nhiều hơn bất kỳ cơ quan nào khác. Do đó, nó rất dễ tổn thương nếu thiếu oxy, glucose. 
   Nguyên nhân đột quỵ là não có bất thương mạch máu hay các bệnh lý mãn tính gây ra cho mach máu và máu . Cơn đột quỵ xuất hiện khí có yếu tố thúc đẩy , nhưng cũng có thể không càn yếu tố thúc đẩy.  Yếu tố thúc đẩy là : cơn tăng huyết áp kịch phát, sự gắng sức, lao động mệ mỏi , sau uống rượu, hoặc sau cơn tức giận ; cũng có thể xảy ra khi đang sinh hoạt bình thường, trong lúc nghỉ ngơi, ngủ.
    Đột quỵ não gây tổn thương nhu mô não với hai nhóm nguyên nhân xuất huyết não và nhồi máu não  

   
Tuy nhiên sự phân chia hai nhóm nguyên nhân này chỉ là tương đối. Các nguyên nhân thường phối hợp nhau gây đột quỵ. Có nhiều bệnh cảnh , nguyên nhân này là khởi đầu cho nguyên nhân kia. 
 

I.NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ XUẤT HUYẾT NÃO 

    CƠ CHẾ XUẤT HUYẾT NÃO LÀ VỠ MẠCH NÃO , MÁU TRÀN VÀO 1 VÙNG NÃO VÀ TẠO  KHỐI TỤ MÁU :
Vỡ mạch não ,vỡ phình mach não , máu tràn ra cùng với khối tụ máu gây tổn thương cho các tế bào não  Các chất co mạch và độc tế bào từ máu bị tràn ra ban đầu và tiếp theo là máu thoát mạch nơi vùng lân cận khối máu tụ cùng với dòng thác các kích hoạt do thiếu máu làm nặng thêm sự phá hủy nhu mô não. Khối máu tụ gây choán chỗ, ép mô não, ảnh hưởng lên sự tưới máu động mạch và tắc tĩnh mạch dẫn lưu làm tăng áp lực nội sọ.
    Xuất huyết não chiếm tỷ lệ ít hơn nhồi máo não, chỉ 15 – 20% trong các ca đột quỵ não,  nhưng thường nặng hơn .
    Tăng huyết áp và dị dạng bẩm sinh mach não là 2 nguyên nhân hàng đầu trong xuất huyêt não. 
 
   1. Tăng huyết áp
  

    Tăng HA mạn tính:  làm tăng sinh tế bào cơ trơn, dày lớp áo giữa động mạch, hẹp lòng động mạch, giảm tốc độ lưu thông của các máu nhỏ
- Tổn thương thoái biến hyalin và fibrin, giàm độ đàn hồi, tạo những phình mạch kích thước 0,5 – 2mm, hay gặp nhất là ĐM  trung tâm tưới máu cho vùng bèo vân, đồi thị, nhân đậu, bao trong…) ở vùng sâu trong não. Do ở ngành sâu, các nhánh tận của ĐM  não không nối thông với nhau và phải chịu áp lực cao, nên chảy máu do tăng huyết áp ở đây thường  nặng . .

    Ngoài ra, tăng  HA  còn thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch . Mà vữa xo động mạch lại là nguyên nhân đứng đầu trong đột quỵ não thể nhũn não
 
   2. Dị dạng bẩm sinh mạch não  

    - Dị dạng động mạch não  (Aneurysms) :Gây phình ĐM hay gặp ở vùng đa giác Willis, các gốc ĐM não và chỗ phân nhánh các ĐM não, là nguyên nhân xuất huyết trong nhu mô não và tụ máu não thất
    - Dị dạng động tĩnh mạch (AVMs) : Gây phình dị dạng động –tĩnh mạch, thường  ở gần bề mặt vỏ não,  gây chảy máu dưới nhện.

   3. Các yếu tố nguy cơ :
      - 
Rối loạn đông máu , đang điều trị thuốc tan huyết khối, thuốc chống đông....  chiếm <5% trong các ca xuất huyết não. 
      -Hút thuốc lá : làm tăng gấp ba nguy cơ đột quỵ so với người không hút thuốc. ..
      - Uống nhiều rượu : thường xuyên làm tăng huyết áp, uống quá mức trong 1 lúc có thể làm mạch máu trong não bị vỡ..Cao huyết áp, hút thuốc lá và uống nhiều rượu  là  sự hối hợp nguy hiểm nhất đối với xuất huyết não )   
      - Stress . Thiếu vận động , thiếu luyện tập. Ăn mặn thành thói quen lâu dài. Dùng các thuốc giống giao cảm  
.....

    4 Chảy máu sau nhồi máu:  do thành mạch trong vùng nhồi máu bị thoái hoá nên dễ vỡ. Khi tái lập tuần hoàn, nhất là khi có cơn cao HA  đột phát xuất hiện gây ra xuất huyết ổ chảy máu trong lòng ổ nhồi máu cũ.

 II.NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ NHỒI MÁU NÃO

CƠ CHẾ NHŨN  NÃO LÀ  TẮC NGHẼN MACH THIẾU MÁU NUÔI 1 VÙNG MÔ NÃO 
    Nhũn não ( Nhồi máu não ; Đột qụy thiếu máu não)  là tình trạng tắc mach máu não tại chỗ,  hoặc nghẽn mạch từ xa, hoặc áp lực máu suy giảm làm một vùng nhu mô não thiếu oxy  và hoại tử .Nhũn não chiếm 75 – 85% trong các ca đột quỵ.
    Mức độ chết tế bào phụ thuộc vào: độ nặng của thiếu máu cục bộ; độ dài thời gian thiếu máu; vị trí tắc nghẽn; sự hiện diện và mức độ hoạt động của tuần hoàn bàng hệ và cả huyết áp động mạch .
    Trong tắc nghẽn mạch máu não cấp tính, sự khuyêch tán máu bị mất đi tại vùng trung tâm nhồi máu ( nhân nhồi máu ) và không hồi phục được. Bao quanh nhân nhồi máu là vùng tranh tối tranh sáng chỉ bị giảm khuyeechs tán máu có thể phục hồi được

   Nhồi máu não có các cơ chế sau Tắc mạch và thuyên tắc: chiếm ~ 60 – 70% : Do cục huyết khổi từ vữa xơ ĐM cảnh, ĐM sống - nền đoạn ngoài sọ : chiếm 45%.

 1. Tuổi tác 
    Tuổi càng cao càng cao tỷ lệ đột quỵ càng lớn. sau tuổi 85, có 25 % nam, và 20% phụ nữ bị đột quỵ. Do mạch não bị lão hoá cùng với các bệnh l của tuổi già như cao huyết ap, vữa xơ động mạch, tiểu đường...  gây hư hỏng mạch nặng thêm. Còn do từ  55  tuổi trở đi, lưu lượng tuần hoàn não giảm xuống nhanh chóng, gây ra tình trạng thiếu năng tuần hoàn não, là yếu tố nguy cơ thúc đẩy gây bệnh đột quỵ nhũn não 
 2. Bệnh vữa xơ động mạch
      
Tắc mạch (Thrombose) .Bệnh vữa xơ ĐM não, các màng xơ vữa nứt ra, thành mạch bị tổn thương chảy máu, tiểu cầu tập trung số lượng lớn bám vào mảng xơ vữa đó, chúng được liên kêt chặt chẽ với nhau bởi các sợi fibrin tạo nên cục máu đông, hay huyết khối tại chỗ hay do cục máu đông chồng lên nền hẹp động mạch mãn tính, gây tắc mạch (Thrombose) 
. 
   3 Bệnh lý tim
    Chiếm 20% trong các ca đột quỵ nhồi máu cơ tim. Bao gồm : Rung nhĩ; Bệnh mạch vành, dị dạng mạch vành, nhồi máu cơ tim. Bệnh van tim bẩm sinh, hẹp lá do thấp, sa van 2 lá, viêm nội tâm mạc. Suy tim: nhất là suy thất trái, huyết khối buồng thất. Tổn thương nhĩ trái: u nhầy, dòng chảy xoáy, huyết khối, … Các can thiệp tim : thông tim, phẫu thuật bắc cầu vành, ghép tim… 
 
  * Thuyên tắc mạch  : Mảnh viêm nội tâm mach hay mảng vữa xơ bong ra từ  mạch tim tạo nhân hyết khối, từ nhân vữa xơ đó, tiểu cầu phóng thích các chất hóa học để thu hút các tiểu cầu khác tạo thành huyết khối. Nó theo dòng máu lên động mạch cảnh và động mạch sống - nền. não, đến chỗ khẩu kính ĐM não nhỏ hơn kích thước cục máu đông, dừng lại và gây thuyên tắc mạch.    
    * Rối loạn huyết động. Rung nhĩ. suy tim Nhịp tim đập không đều và bơm máu một cách hỗn loạn và : thường phối hợp với các nguyên nhân khác làm cơ đột quỵ dễ khởi phát

    4. Hạ huyết áp 
   Hạ huyết áp đột ngột  thường thường gây ra nhồi máu lỗ khuyết vùng giáp ranh hay còn gọi là nhồi máu giao thuỷ.  Tại giao thuỷ của các mạch xuyên nối thông giữa ngành ĐM não trong ( trung tâm ) và ngành ĐM não ngoài 
 
 - Nhồi máu (Lacunar) do tắc các động mạch xuyên, sâu và nhỏ.Chiếm 15 – 25% 
   
   5. Huyết khối tĩnh mạch  và xoang tĩnh mạch :  chỉ chiếm 1% .- Nguyên nhân : (1) Do nhiễm trùng: các xoang, tai, mắt, mũi, hoặc da lan  lên xoang hang. (2) Không do nhiễm trùng: chu sinh sản giật, mang thai, thuốc ngừa thai; Bệnh máu:  rối loạn đông di truyền ( Huyết khối xoang tĩnh mạch não ở trẻ em) và mắc phải; rối loạn tăng sinh tủy; Các khối u, ung thư, bệnh tạo keo, HC kháng phospholipid; Chấn thương đầu, chọc dò tủy sống; Tình trạng mất nước; (3) Chưa rõ nguyên nhân: ~ 20-35%

    6. Các yếu tố tăng nguy cơ  đột quỵ  
  
     - Các bênh làm hư mạch máu: 
 Bệnh tiểu đường có nguy cơ mắc đột qụy cao gấp 2,5 – 4 lần nhóm người có đường máu bình thường. Bệnh mỡ máu : Cholesterol cao : ≥240 mg/dL làm tăng nguy cơ đột quỵ. Bệnh cao huyết ap ( như đã nói phần trên) : vừa là nguyên nhân vừa là yếu tố thúc đẩy.  
      - Các bệnh máu và bệnh ảnh hưởng đến đông máu  : hồng cầu lưỡi liềm, đông máu rải rác lòng mạch, bệnh bạch cầu, tăng độ nhớt của máu, tăng thể tích hồng cầu, Suy tĩnh mạch.Chứng co thắt mạch não (vasoconstriction).
      - Các bệnh cấp tính : Nhiễm khuẩn, khối phát triển nội sọ, ngộ độc CO,...
      - Do môi trường và lối sống : Sress ; Thay đổi tư thế quá đột ngội. Thời tiết khí hậu.  Sử dụng  thuốc lá , rượu bia quá mức và kéo dài. Dùng ma túy cocain và methamphetamin; nhiễm độc chì mạn tính; dÙNG thuốc tránh thai và liệu pháp thay thế hormon với estrogen; Chế độ dinh dưỡng kém
      - Giới: tính , chủng tộc và di truyền : 
- Tỷ lệ nam / nữ từ 1,6/1 đến 2/1.
-Chủng tộc da đen cao nhất, da vàng thấp hơn, da trắng thấp nhất
-Di truyền: bệnh nhồi máu dưới vỏ  do bất thương ĐM não di truyền gen trội .Có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn nếu gia đình có người  bị đột quỵ

III.PHÒNG BỆNH  
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ và dự phòng sớm
1. Đối với các bất thường, dị dạng mạch não: ở người trẻ, nếu thường xuyên có những triệu chứng như đau nhói tại một điểm trong  sọ não, hay đau đầu kiểu Migraine, thiểu năng tuần hoàn não thì nên chụp CT, MRI  hay DSA  sọ não để tìm các hình ảnh phình mạch. Ttên phim mà có phình động mạch não hay phình thông Đông - Tĩnh mạch não, bạn sẽ được các chuyên gia mạch não can thiệp sớm - nếu có chỉ định. Theo 1 thống kê cho biết  đột quỵ trong nhóm người trẻ tuổi. có có đến 88% bị  các cơn đau đầu trong tiền sử 
2. Cần phát hiện sơm, theo dõi sát và điều trị tích cực các bệnh  :
- Cao huyết áp ( giữ dưới 135/85 mmHg), tiểu đường ( giữ dưới 64 mg/l).
- Béo phì ( đưa chỉ khối cơ thể BMI < 25),  vữa xơ động mạch, rối loạn mỡ máu  Duy trì cholesterol dưới 200mg/100ml. Hạn chế ăn chất béo bão hoà ; Ăn nhiều trái cây, rau và ngũ cốc, giảm cân, thể dục đều đặn.
- Bệnh tim cần được điều trị  : rung tâm nhĩ (AF), tâm nhĩ trái có thể lên đến 400 lần/ phút, làm tăng nguy cơ đột quỵ của bạn từ 4 đến 6 lần..
- Phòng và trị bệnh đa hồng cầu (có thể gây cơn thiếu máu não hay nhũn não).
3. Có một lối sống lành mạnh ngay từ tuổi trẻ: để tuổi già phòng chống được nhiều bệnh, trong đó có bệnh đột quỵ não. Lối sống lành mạnh là tinh thần giữ quân bình không làm các việc xấu, ác tự chuốc lo lắng vào tâm. Không làm việc quá sức khoẻ và trình độ của mình để khỏi căng thẳng. Giữ mối quan hệ gia đình xã hội tốt. Lỡ gặp người xấu thì tránh xa ra, không thể tránh được thì quên lơ bớt đi cho khoẻ. Không nghiện thuốc lá, rượu bia. Dinh dưỡng phù hợp với bản thân. Tập thể dục, chon môn phù hợp với bản thân và thành thói quen hàng ngày. Giữ gin cơ thể không bị tác động đột ngột của  sự thay đổi  nhiệt độ , khí hậu và thời tiết 

4.  Khi bản thân có các yếu tố nguy cơ của bệnh đột quỵ, hoặc đã có những dấu hiệu nghi ngờ cần đi khám bệnh định kỳ theo hẹn của bác sỹ chuyên khoa và thưc hiện theo chỉ dẫn của bác sỹ đó .
5. Tập luyện và chăm sóc riêng cho não : não cần được làm việc và nghỉ ngơi khoa học. Nếu bạn lười suy nghĩ, không có tư duy tích cực thì não sẽ trì trệ nhanh lão hoá hơn, về già dễ mắc bênh mất trí nhớ  ( alzheimer ). Bạn cũng không nên thức khuya dậy sớm quá , làm cho não suy nhược.Ngủ là yếu tố rất quan trọng trong quá trình tuần hoàn máu lên não, tránh các tác nhân gây mất ngủ, nên ngủ đủ giấc từ 6-8 tiếng/ngày. Nâng cao sức khoẻ cho não cũng là biện pháp phòng chống đột quỵ.

 Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp  BS Mai 

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ  CÁC DI CHỨNG LIỆT  : 



BÀI TIẾP THEO : XỬ LÝ CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ ĐỘT QUỴ 

 

 

 

  


 



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn