CÁC CHỨNG TÊ LIỆT » Các Bệnh Lý Tuỷ Sống

NHỒI MÁU TUỶ, NHUYỄN TUỶ


 Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp  Khởi phát nhồi máu cấp tính thường tiến triển nhiều phút hay vài giờ, cũng có thể đột ngột và nhanh. Bắt đầu phần lớn bằng đau lưng hay cố đột ngột ở đoạn tương ứng với mức của tổn thương tuỷ  và lan xuyên theo rễ. Liệt mềm, mất phản xạ.  Sau một vài ngày qua sốc tuỷ, tiến triển thành liệt cứng...  Nếu nhồi máu tuỷ nặng hoặc lan rộng có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề về rối loạn vận động, cảm giác và cơ trơn


NHỒI MÁU TUỶ, NHUYỄN TUỶ
 

  Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp  BS Phạm Thị Mai :
 
    Là tình trạng tuỷ hoại tử do không được tưới máu.Khởi đầu do thiếu máu cục bộ bán cấp hoặc mạn tính. Biểu hiện lâm sàng với 2 mức độ :  nhuyễn tủy ngang hoàn toàn và nhuyễn tủy từng phần. Nhồi máu tuỷ ít cấp bách hơn chảy máu tuỷ,  và tỷ lệ các ca nặng, tử vong cũng thấp hơn chảy máu tuỷ

 I.NGUYÊN NHÂN
-Thoái hóa cột sống, hư xương sụn (osteochondrosis) đoạn cổ, thắt lưng, viêm rễ thắt lưng cùng ảnh hưởng đến mạch tuỷ , thì thường có thoáng qua và mãn tính
- Phình ĐM chủ, vữa xơ động mạch, viêm nội tâm mạc, tình trạng tăng đông…
- Bệnh mạch tại tuỷ ( dị dạng mach, viêm mạch máu trong Lupus ban đỏ hệ thống. HC kháng thể kháng Phospholipid….) Do hạ huyết áp nặng .
- Sau chụp động mạch chủ, phẫu thuật động mạch chủ ngực…
II. CƠ CHẾ
   Do không được cung cấp o xy và chất dinh dưỡng từ máu do giảm tuần hoàn hoặc lấp mạch một hoặc nhiều mạch nuôi tuỷ, thiếu máu cục bộ của một vùng tuỷ. Tình trạng thiếu máu này không được khác phục, tổn thương lan rộng và để kéo dài, tuỷ bị hoại tử, được gọi là  nhồi máu tuỷ hay nhuyễn tuỷ.  Vi thể các tế bào tủy teo và chết, có các ổ hoại tử, chất trắng thoái hóa myelin, phù gian bào.
III. TRIỆU CHỨNG  
    Tiền sử : thường có nguyên nhân gây bệnh nhồi máu tuỷ. Thường có tiền sử  HC thiếu máu tuỷ thoáng qua hoặc không có dấu hiệu báo trước. Lâm sàng có hai thể :
1.Nhuyễn tủy ngang hoàn toàn - HC cắt ngang tủy hoàn toàn 
    Nhuyễn tuỷ ngang hòan toàn là một trong những nguyên nhân gây ra HC cắt ngang tủy hoàn toàn
    Khởi phát nhồi máu cấp tính thường tiến triển nhiều phút hay vài giờ, cũng có thể đột ngột và nhanh. Bắt đầu phần lớn bằng đau lưng hay cố đột ngột ở đoạn tương ứng với mức của tổn thương tuỷ  và lan xuyên theo rễ. Liệt mềm, mất phản xạ.
    Sau một vài ngày qua sốc tuỷ, tiến triển thành liệt cứng, phản xạ gân xương nhậy, phản xạ da gan chân đảo ngược. Rối loạn cảm giác kiểu phân ly: mất cảm giác đau và nhiệt nhưng còn cảm giác sâu và cảm giác tư thế (vì cột sau được nuôi dưỡng bởi động mạch tủy sống sau).
    Nếu nhồi máu tuỷ nặng hoặc lan rộng có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề về rối loạn vận động, cảm giác và cơ trơn.
     Tổn thương tuỷ theo chiều dọc
- Tuỷ cổ : bại hoặc liệt  mềm tứ chi. Sau đó liệt cứng, teo cơ và mất phản xạ. Mất cảm giác hoàn toàn từ khoanh tuỷ hoại tử trở xuống, đôi khi ở sát phía trên tuỷ hoại tử lại có tăng cảm giác đau. Phần lớn trường hợp lúc đầu bị ứ niệu và sau đó là tiểu không kìm được. Thường hay kèm theo cả triệu chứng cương đau dương vật (priatpismus).
- Tuỷ cổ và tủy ngực : có rối loạn thần kinh thực vật như rối loạn điều chỉnh tư thế đứng và thiếu điều hòa thân nhiệt, biến chứng về tim và phổi, rối loạn dinh dưỡng và cuối cùng dẫn đến loét mục.  Đoạn tuỷ T3-T4:  Nơi  động mạch liên sườn và động mạch thắt lưng được tách ra từ động mạch chủ  bị nhỏ lại đột ngột nên cục vữa xơ huyết khối dễ bị nghẽn tắc.
-Phình tuỷ thắt lưng-đuôi ngựa:. HC tuỷ cắt ngang cấp tính, liệt mềm 2 chân đột ngột, sau vài ngày đến vài  tuần chuyển liệt cứng. Thường có phân ly cảm giác, giảm cảm giác đau, nóng lạnh, còn cảm giác âm thoa và tư thế.
- Ở bất kỳ khoanh tuỷ nào: tại vùng ranh giới tưới máu của ĐM  tuỷ trước và tuỷ sau đều có thể xảy ra.
  Tổn thương tuỷ theo mặt cắt ngang
-Vùng tưới máu của ĐM tuỷ trước: liệt 2 chân hay liệt tứ chi. Mất cảm giác phân ly. Ảnh hưởng đến cảm giác đau và nhiệt (bó gai đồi thị). Mất kiểm soát cơ vòng. Đau nhói theo đường giữa hay đau lan về vị trí vùng thiếu máu cục bộ. Mất phản xạ (do sốc tuỷ) thường có lúc đầu, Sau cùng, tăng phản xạ và co thắt
- 1 phần của 1 nửa tuỷ trước: liệt nửa người hay liệt một chi. Mất cảm giác đau và nhiệt đối bên
-Vùng tưới máu của ĐM  tuỷ  sau : hiếm gặp.Mất chức năng cảm giác vị trí khớp và cảm giác rung. 

2. Nhuyễn tủy từng phần : tuỳ theo tổn thương ở ĐM tuỷ nào, mà gây ra hội chứng tuỷ của ĐM đó 
* HC tổn thương ĐM tuỷ trước :  Đau cổ - gáy hoặc đau lưng đột ngột và liệt nhẽo 2 chân hoặc liệt tứ chi, mất phản xạ, rối loạn cảm giác nóng, lạnh và đau ở các đoạn tủy tổn thương và phía dưới đó. Sau đó chuyển nhanh thành liệt cứng, tăng phản xạ ( là dấu hiệu tiên lượng tốt), rối loạn cảm giác đau. Bí tiểu. Sang giai đoạn mãn: dị cảm kiểu đau, bỏng dưới mức tủy bị tổn thương. Có triệu chứng thần kinh thực vật kèm theo. Teo cơ nếu có hoại tử các tế bào sừng trước. Trái ngược với HC  tủy ngang hoàn toàn là cảm giác về xúc giác và vận động không hoặc chỉ rất ít bị rối loạn.
* HC tổn thương ĐM tuỷ sau : rất hãn hữu gặp. Mất cảm giác bản thể, rung, xúc giác nhẹ và có mức rối loạn cảm giác. Còn cảm giác đau và nhiệt, từ mức rối loạn cảm giác do khoanh tủy bị tổn thương. Không có rối loạn vận động. Mất phản xạ gân xương và phản xạ da ở mức khoanh đoạn tủy bị tổn thương. Rối loạn xúc giác, rối loạn cảm giác sâu.  

IV.TIÊN LƯỢNG :
Phụ thuộc vào nguyên nhân có sẵn và mức độ tổn thương.Tỷ lệ biến chứng nặng và tử vong của nhồi máu tuỷ ít hơn chảy máu tuỷ.
Nhuyễn tủy ngang hoàn toàn có tiên lượng xấu, biến chứng nặng  viêm bàng quang, viêm bể thận – thận ngược dòng, loét mục, co cứng khớp thứ phát. Tỉ lệ tàn tật và tử vong cao ở nhóm có bóc tách phình ĐM  chủ ( Đau dữ dội ngực hay lưng, giảm hay mất  mạch ở chân). 
Nhuyễn tủy từng phần có thể phục hồi chức năng tốt nhưng thường phải trải qua một thời gian điều trị tích cực và dài ngày.  

V. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
      

Chẩn đoán phân biệt nhuyễn tủy sống với các bệnh
- Thoái hoá tủy sổng (thoái hoá các bó, những cột của cấu trúc tủy sổng ) ở người già: thường hay gặp nhiêu hơn là nhuyễn tủy.
- Các tổn thương chèn ép tuỷ.
- Các nguyên nhân khác của viêm tủy ngang cấp tính  : thường hay gặp. 
- U tủy : thường có quá trình tiến triển bệnh kéo dài. Riêng  u tủy cỡ lớn mới có nghẽn tắc dịch não – tủy và nghiệm pháp Queeckenstedt (+). Chụp tủy sống để chẩn đoán xác định
Viêm màng nhện tủy và bọc máu ngoài màng cứng tuỷ : X quang  tủy sống  chẩn đoán phân biệt
- Bệnh xơ cứng rải rác, xơ cứng cột bên teo cơ ( Cứng cổ, đau cánh tay, tê bàn tay và yếu dần tứ chi. Liệt nửa người .Hoặc liệt cứng hai chân, phản xạ gân xương tăng, phản xạ bệnh lý bó tháp (+) hoặc rối loạn cảm giác kiểu phân ly.Trong giai đoạn quá độ chuyển sang mạn tính, bị rối loạn dáng đi và mất điều hòa vận động.
- Viêm tuỷ xám
-Tắc ở chạc đôi động mạch chủ:  có một vài triệu chứng nổi bật là mạch không bắt được, mà trong nhuyễn tủy sống do thiếu máu đơn độc không bao giờ có

  Phòng Khám Bệnh Đông _ Tây Y Kết Hợp  BS Phạm Thị Mai :



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn