CẢM CÚM VÀ DICH » Dịch SARS-CoV-2

PHÁC ĐỒ CẤP CỨU PHẢN VỆ


PHÁC ĐỒ CẤP CỨU PHẢN VỆ  Thông tư số 51/2017/tt-byt : - Xử lý tại chố: tiêm Adrenaline 0,3 mg - 0,5 mg đã sạc sẵn vào các ống tiêm, tiêm mặt trước đùi, sau mỗi vài phút  xem mạch , thấy mạch chìm , tiêm lại 1- 2 mũi nữa, sau đó có thể lập đường truyền tĩnh mạch - Chuẩn bị đầy đủ thuốc và vật tư theo  Thông tư số 51/2017/tt-byt - Tập huấn thành thạo đội cấp cứu - Kết nối với các đơn vị bạn hỗ trợ khi cần

 



PHÁC ĐỒ CẤP CỨU PHẢN VỆ 

Thông tư số 51/2017/tt-byt

  I. TRIỆU CHỨNG SỐC PHẢN VỆ:

Ngay sau khi tiếp xúc với dị nguyên hoặc muộn hơn, xuất hiện:
- Cảm giác khác thường (bồn chồn, hốt hoảng, sợ hãi…), tiếp đó có các biểu hiện sau:
– Mẩn ngứa, ban đỏ, mày đay, phù Quincke.
– Mạch nhanh nhỏ khó bắt, huyết áp tụt có khi không đo được.
– Khó thở (kiểu hen,thanh quản), nghẹt thở.
– Đau quặn bụng, ỉa đái không tự chủ.
– Đau đầu, chóng mặt, đôi khi hôn mê.
– Choáng váng, vật vã, giẫy giụa, co giật.
 
II. XỬ TRÍ SỐC PHẢN VỆ

A. Xử trí ngay tại chỗ:

1. Ngừng ngay đường tiếp xúc với dị nguyên (thuốc đang dùng tiêm, uống, bôi, nhỏ mắt, mũi…)
2. Cho bệnh nhân nằm tại chỗ.
3.  Adrenaline dung dịch 1/1.000, ống 1ml =1mg, tiêm dưới da ngay sau khi với liều như sau:
            1/2 -> 1 ống ở người lớn, không quá 0.3ml ở trẻ em
            Cách pha : ống 1ml + 9ml nước cất = 10ml sau đó tiêm 0.1ml/kg
            hoặc Adrenaline 0.01mg/kg cho cả trẻ em lẫn người lớn.
Tiếp tục tiêm Adrenaline liều như trên 10 – 15 phút/lần cho đến khi huyết áp trở lại bình thường
 4. Ủ ấm, đầu thấp chân cao, theo dõi huyết áp 10 – 15phút/ lần (nằm nghiêng nếu có nôn).

B. Tuỳ theo điều kiện trang thiết bị y tế
và trình độ chuyên môn kỹ thuật của từng tuyến có thể áp dụng các biện pháp sau:

1. Xử trí suy hô hấp:
       Thở ôxy mũi, thổi ngạt.
       Bóp bóng Ambu có oxy.
       Đặt nội khí quản, thông khí nhân tạo -> Mở khí quản nếu có phù thanh môn.
       Truyền tĩnh mạch chậm: Aminophyline 1mg/kg/giờ hoặc Terbutaline 0,2 microgam/kg/phút.
Có thể dùng: Terbutaline 0.5mg, 01 ống dưới da cho người lớn và 0,2ml/10kg ở trẻ em. Tiêm lại sau 6 – 8 giờ nếu không đỡ khó thở.

2. Thiết lập đường truyền tĩnh mạch:
Adrenaline để duy trì huyết áp bắt đầu bằng 0.1microgam/kg/phút điều chỉnh tốc độ theo huyết áp (khoảng 2mg Adrenaline/giờ cho người lớn 55kg).

3. Các thuốc khác :
       Methylprednisolon 1- 2mg/kg/4giờ hoặc Hydrocortisone.
       Hemisuccinate 5mg/kg/giờ tiêm tĩnh mạch (có thể tiêm bắp ở cấp cơ sở). Dùng liều cao nếu sốc nặng (gấp 2- 5 lần).
       Natriclorua 0.9% 1- 2 lít ở người lớn, không quá 20ml/kg ở trẻ em.
       Diphenhydramine 1- 2mg tiêm bắp hay tĩnh mạch.

4. Điều trị phối hợp :
* Uống than hoạt 1g/kg nếu dị nguyên qua đường tiêu hoá
* Băng ép chi phía trên chỗ tiêm hoặc đường vào của nọc độc.

Chú ý:

       Theo dõi BN ít nhất 24 giờ sau khi HA đã ổn định.
       Sau khi sơ cứu nên vận dụng đường tiêm tĩnh mạch đùi.
       Nếu HA vẫn không lên sau khi truyền đủ dịch và Adrenaline,
           thì có thể truyền huyết tương, albumin,  máu, hoặc bất cứ dung dịch cao phân tử nào sẵn có.

       Điều dưỡng có thể dùng Adrenaline dưới da theo phác đồ khi bác sỹ không có mặt.
       Hỏi kỹ tiền sử dị ứng và chuẩn bị hộp thuốc cấp cứu sốc phản vệ trước khi dùng thuốc cần thiết.

Hộp thuốc cấp cứu chống sốc phản vệ cần có:
       Adrenaline 1mg – 1mL 2 ống
       2 Nước cất 10 mL 2 ống
       Bơm tiêm vô khuẩn (dùng một lần): 10mL 2 cái, 1mL 2 cái
       Hydrocortisone hemusuccinate 100mg hoặc Methyprednisolon (Solumedrol 40mg hoặc Depersolon 30mg 02 ống).
       Phương tiện khử trùng(bông, băng, gạc, cồn)
       Dây garo.
       Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ của bộ Y tế


BỔ XUNG một số vấn đề mới rất quan trọng 
( GS TS Nguyễn Gia Bình chủ tịch hội Hội Hồi Sức Câp Cứu Và Chống Độc) 
 
- Xử lý tại chố: tiêm Adrenaline 0,3 mg - 0,5 mg đã sạc sẵn vào các ống tiêm, tiêm mặt trước đùi, mỗi vài phút xem mạch , thấy mạch chìm, tiêm lại 1- 2 mũi nữa, sau đó thấy chưa ổn , lập đường truyền tĩnh mạch . Đông thời kết nối với các đơn vị bạn hỗ trợ khi cần
- Chuẩn bị đầy đủ thuốc và vật tư theo  Thông tư số 51/2017/tt-byt
- Tập huấn thành thạo đội cấp cứu


https://www.youtube.com/watch?v=kCnnbgGEPSE


Liều lượng – cách dùng của Adrenalin 

Tùy mức độ bệnh, có thể dùng 1 mg/lần, 2 mg/24h, tiêm dưới da hoặc truyền tĩnh mạch.

Sốc phản vệ: Adrenalin là thuốc ưu tiên lựa chọn để điều trị choáng phản vệ. Liều ban đầu nên dùng ở người lớn là tiêm dưới da hoặc tiêm bắp từ 0,3 đến 0,5 ml dung dịch 1:1000, cứ 20 hoặc 30 phút tiêm nhắc lại một lần. Nếu tiêm bắp hoặc tiêm dưới da không có tác dụng, thì phải dùng đường tĩnh mạch; liều tiêm tĩnh mạch là từ 3 đến 5 ml dung dịch nồng độ 1:10000; các lần cách nhau từ 5 đến 10 phút. Nếu trụy tim mạch nặng thì phải tiêm trực tiếp adrenalin vào tim. Trong trường hợp sốc, khó thở nặng hay khi có cản trở ở đường hô hấp thì nên dùng đường tĩnh mạch.

Ngừng tim: Adrenalin là thuốc ưu tiên để điều trị ngừng tim. Liều thường được khuyên dùng là tiêm tĩnh mạch từ 0,5 đến 1 mg, cách nhau từ 3 đến 5 phút. Với người đã bị ngừng tim trước khi vào viện thì có khi phải dùng liều cao hơn nhiều (tới 5 mg tiêm tĩnh mạch). Có thể truyền adrenalin liên tục (0,2 đến 0,6 mg/phút), nếu cần thiết. Hiện nay không sử dụng tiêm thẳng vào tim như hướng dẫn trước kia. Tiêm adrenalin vào tĩnh mạch, vào khí quản hay vào tim có tác dụng tốt trong điều trị ngừng tim do rung thất. Adrenalin chủ yếu được sử dụng trong trường hợp điều trị rung thất bằng sốc điện thất bại. Liều khuyên dùng ở trẻ em là 7 – 27 microgam/kg (trung bình là 10 microgam/kg).

Sốc nhiễm khuẩn: Trong trường hợp điều trị sốc nhiễm khuẩn nặng bằng truyền dịch, truyền dopamin một mình hoặc kết hợp với dobutamin bị thất bại, thì truyền adrenalin vào tĩnh mạch (0,5 đến 1 microgam/kg/phút) có thể có kết quả tốt.





CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn