RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ » RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ PURIN

RỐI LOẠN CHUYÊN HOÁ PURIN, TĂNG ACID URIC MÁU


http://suckhoeloisong.vn/ : Trong thời đại ngày nay các bệnh lý chuyển hóa và liên quan đến chuyển hóa ( tăng huyết áp, bệnh mạch vành, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, béo phì, bệnh thận mạn…) gia tăng mạnh. Chúng có liên quan với nhau và thúc đẩy lẫn nhau. Trong đó có rối loạn chuyển hóa purin gây tăng acid uric máu, là nguyên nhân của bệnh gut và sỏi urat thận, mật.

RỐI LOẠN CHUYÊN HOÁ PURIN,                                                                                                  TĂNG ACID URIC MÁU 

http://suckhoeloisong.vn/

    Trong thời đại ngày nay các bệnh lý chuyển hóa và liên quan đến chuyển hóa ( tăng huyết áp, bệnh mạch vành, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, béo phì, bệnh thận mạn…) gia tăng mạnh. 
     Trong đó có rối loạn chuyển hóa purin gây tăng acid uric máu, là nguyên nhân của bệnh gut và sỏi urat thận, mật. Hiện nay ở Mỹ, gần 4% người bị gút và gần 21% người tăng acid uric máu. Bệnh này nếu không được phát hiện sớm và điều trị kiên trì sẽ  gây hậu quả biến dạng khớp, teo cơ , mất khả năng vận động chi, và biến chứng nguy hiểm như đột quỵ, tai biến vành, suy tim, suy thận…

I.CHUYỂN HOÁ PURIN VÀ ACID URIC  

    Purin trong cơ thể, từ  2 nguồn : Nguồn bên ngoài  thức ăn đưa vào, được thoái giáng các acid nucleic, tạo ra khảng khoảng 30% lượng acid uric trong cơ thể. Nguồn bên trong giáng hoá các acid nucleic ( từ các tế bào bị tiêu hủy, từ sinh tổng hợp và chuyển hoá purin ) tạo ra  khoảng 70% lượng acid uric trong cơ thể. Các quá trình nội sinh khá phức tạp và hầu như không thể can thiệp.
    Bình thường quá trình tổng hợp và bài xuất acid uric ở trạng thái cân bằng.với nồng độ  6,8 mg/dl, Acid uric bị ion hóa thành monosodium urate muối hòa tan trong huyết tương dạng tự do, chỉ khoảng < 4% gắn với protein huyết thanh.
    Tổng lượng acid uric trong cơ thể nam 1200 mg và nữ  600 mg. Khoảng 70% tổng lượng acid uric được đào thải qua thận, pH nước tiểu càng kiềm càng thuận lợi cho việc thải acid uric và ngược lại. Ngoài ra  còn chịu ảnh hưởng của (yếu tố di truyền, các bệnh lý của hội chứng chuyển hóa, suy thận, các thuốc ảnh hưởng đến chức năng thận). 30% còn lại, được được các vi khuẩn phân đường tiêu hoá phân huỷ và thải ra theo phân.
     Nồng độ acid uric máu trung bình ở nam: 5,1 ± 1,0 mg/dl (420 μmol/L) và ở nữ 4,0 ± 1 mg/dl (360 μmol/L). Khi vượt qua giới hạn trên được coi là tăng acid uric. Ở nồng độ cao hơn các tinh thể urat sẽ dễ dàng bị kết tủa. 

II.NGUYÊN NHÂN TĂNG ACID URIC MÁU

1.Tăng tổng hợp acid uric máu nguyên phát: Đa số là không rõ nguyên nhân, một số rất ít gặp là bẩm sinh do thiếu hụt men hypoxanthine phosphoribosyltransferase (HGPRT) hoặc tăng hoạt tính men phosphoribosyl -pyrophosphat synthetase (PRPP).
2. Tăng tổng hợp acid uric máu thứ phát :
         + Do ăn quá nhiều thức ăn chứa purin
Đặc biệt uống nhiều rượu bia làm tăng dị hoá các nucleotid có nhân purin, làm tăng dị hóa ATP thành AMP gây tăng sản xuất acid uric. Rượu còn gây mất nước và tăng acid lactic máu. Uống rượu, thường kèm theo thức ăn giầu purin, nên lượng acid uric càng  tăng cao. Rượu còn hạn chế bài tiết urat qua nước tiểu, giữ lại purin và tăng quá trình tinh thể hoá muối urat ở nước tiểu và tế bào.
         + Tăng tái tạo các nucleotide, tăng thoái hoá ATP, bệnh dự trữ glycogen, bệnh cơ nặng…
3. Các nguyên nhân gây giảm bài xuất acid uric:  Suy thận; Bệnh thận do nhiễm độc chì ; Tăng đề kháng insulin; Tăng huyết áp gây cường tuyến cận giáp; Do thuốc: cyclosporine, pyrazinamide, ethambutol, liều thấp aspirin...
4. Do di truyền:  2 genes: SLC2A9 và ABCG2… có thể  cản trở việc đào thải acid uric  đang được nghiên cứu.
5. Phối hợp các nguyên nhân và yếu tố trên  

III. HẬU QUẢ CỦA TĂNG ACID URIC HUYẾT 

1. Tác động xấu với hệ nội tiếtKích hoạt hệ renin-angiotensin- aldosterone (RAAS) là hệ điều hòa cân bằng huyết áp và dịch ngoại bào . Kích hoạt các yếu tố hóa ứng động bạch cầu (chemokines). Hoạt hóa các stress  oxydases NADPH ( nicotinamide adenine dinucleotide phosphate oxydases).  Giảm hoạt tính sinh học của các nitric oxide (NO). Hoạt hoá các yếu tố trung gian làm co mạch.

2. Các tác động gây bệnh hoặc làm nặng thêm :  Tăng acid uric máu ,gut , Tăng huyết áp . đái tháo đường , xơ mỡ động mạch, rối loạn lipid máu, béo phì, tăng acid uric máu là các bệnh có liên quan với nhau và thúc đẩy lẫn nhau. 

     Bệnh gút gây những cơn đau đột ngột, dữ dội tại khớp, gọi là “cơn gút cấp”, tiến triển thành mạn tính gây các tophy quanh khớp, hư hỏng, biến dạng, mất chức năng khớp và nhiều biểu hiện của các bệnh liên quan (tim mạch, bệnh thận mạn, rối loạn lipid máu…). Thoái hóa khớp, với tổn thương sụn khớp lại làm các tinh thể urat dễ dàng lắng đọng hơn… tạo thành một vòng xoắn luẩn quẩn của bệnh gut nói riêng và bệnh lý khơp nói chung ở người cao tuổi.
     Tăng huyết áp :  THA không được điều trị có đến 22 – 38 %Tăng acid uric máu. Tỉ lệ bệnh gút trong dân số THA là 2 – 12 %. Có 25 – 50 % bệnh nhân gút có kèm THA. Nguyên do acid uric tác động lên các tế bào nội mạch, gây co mạch và kích hoạt hệ RAAS
     Nhồi mái cơ tim : tăng nguy cơ đột tử do tim ở nhóm bệnh nhân có tăng acid uric máu có 20,1% , trong khi ở bệnh nhân không tăng acid uric máu thì con số này là 15,3%. .
      Béo phì:  béo phì làm tăng tổng hợp acid uric máu và làm giảm thải acid uric niệu, kết hợp của cả 2 nguyên nhân này gây tăng acid uric máu. Tỉ lệ bệnh gút tăng rõ rệt ở những người có BMI > 10%. 50% bệnh nhân gút có BMI> 20% trọng lượng cơ thể. 
     Tăng triglyceride (TG):  Có đến 80% người tăng TG máu, giảm HDL kết hợp tăng acid uric máu,. Có khoảng 50% – 70% bệnh nhân gút có tăng TG máu. Tăng acid uric máu kết hợp với béo phì vùng bụng ,đề kháng insulin.là nhóm nguy cơ cao của bệnh tim mạch                  Đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 là bệnh lý thường gặp ở bệnh nhân gút do sự đề kháng insulin.
      Bệnh thận mạn: nồng độ acid uric máu cao làm chức năng thận xấu đi. Chức năng thận xấu đi lại làm giảm thải trử acid uric… có tới 70% bệnh nhân gút có bệnh thận mạn giai đoạn 2 – 3.

IV. KIỂM SOÁT ACID URIC MÁU

      Điều trị chung bao gồm: chế độ ăn uống, sinh hoạt, vận động hợp lý và thuốc, là khuyến cáo điều trị mới của  (EULAR 2014, ACR 2015…) 
      Mục tiêu của điều trị 
Giữ acid uric máu < 6 mg% (360 μmol/L) cho mọi bệnh nhân
Giữ acid uric máu < 5 mg% (300 μmol/L) cho bệnh nhân có lắng đọng tinh thể urat ở các mô hoặc có bệnh thận mạn
Điều trị và kiểm soát các bệnh cùng mắc
      Thuốc điều trị cơ bản 
- Ức chế men xanthine oxydase là nhóm thuốc hàng đầu được chọn lựa để kiểm soát acid uric máu là allopurinol và febuxostat.
Allopurinol là một chất ức chế men xanthine oxidase kinh điển chứa nhân purin
Febuxostat một chất ức chế men xanthine oxidase mới, không có nhân purin. Thuốc là một chọn lựa thích hợp cho các bệnh nhân không dung nạp, điều trị không hiệu quả, dị ứng allopurinol hay bị bệnh thận mạn.
- Ngoài ra, còn có các thuốc tăng thải acid uric, thuốc tiêu hủy acid uric (được sử dụng khi các thuốc ức chế men xanthine không kiểm soát được acid uric hoặc cho những bệnh nhân gút mạn nặng), các thuốc sinh học kháng IL 1β (tác dụng kháng viêm mạnh để khống chế các cơn gút cấp kháng với các điều trị thông thường: Rilonacep, Canakinumab, Anakira…)

V.CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ ĐÔNG Y ( CÓ BÀI RIÊNG ) 

VI. PHÒNG BỆNH 

Đối với nhóm bệnh gây ra do ăn uống , thì lưu ý thực đơn chắc chắn phòng chữa được bệnh . Đối với nhóm bệnh gây ra do do các nguyên nhân khác , thì kiêng khem trong ăn uống cũng làm bệnh giảm bớt. 

1. Thực phẩm chứa purin 
Bất kì loại đồ ăn nào cũng có chứa purin, ít hay nhiều. Dựa vào hàm lượng purin để chúng ta lựa chọn thực phẩm cho những người bị bệnh gut và các bệnh liên quan 

 Purine  cao > 150mg /100g thực phẩm:  dê, cừu, chó, chim, thú , nội tạng động vật, nem chua, thịt muối, hải sản ( sống hoang dã
 Purine rung bình : 50-150 mg /100g thực phẩm : gà, vịt, ngan, ngỗng ( nuôi) , bột mì, măng, nấm, hột điều, đậu phộng, đậu hà lan… 
Purine thấp 
 > 50mg purin/100 g thực phẩm : rau cải bẹ xanh, sữa đậu nành, rau mùng tơi, đậu hũ, rau diếp cá, cà phê, bơ thực vật, dầu ăn…

2. Thực phẩm  ức chế khả năng chuyển hóa purin:  của cơ thể, như bia,  rượu và chất béo bão hòa, cần được hạn chế hoặc tránh hoàn toàn.

 http://suckhoeloisong.vn/



Để lại tin nhắn để được tư vấn