BỆNH TIÊU HOÁ » Lý Luận_Tỳ Vị

TẠNG PHỦ BIỆN CHỪNG LUẬN TRỊ


BS Phạm Thị Mai  : Tây Y dùng khoa học Y hoc cơ sở, Y học thực nghiệm và Y học lâm sàng để làm chứng cứ cho mọi kết luận về Y học. Y Học Cổ Truyền dùng các lý luận ( Âm- Dương, Ngũ Hành, Tạng Tượng…) làm nền móng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đông y. Phép Tạng phủ biện chứng luận trị là gì ?




TẠNG PHỦ BIỆN CHỪNG LUẬN TRỊ 

I. HAI NỀN KHOA HỌC CỔ ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI GẶP NHAU NƠI BỆNH VIỆN ....!

Trong cơ thể con người có lục phủ ( Tiểu trường, Tâm bào,  Đởm, Vị, Đại trường , Bàng quang)  và ngũ tạng ( Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận )

Tây y, mỗi nội tạng có hình ảnh cấu trúc ( đại phẫu và vi phẫu) rất rõ ràng. Mỗi tạng có chức năng sinh lý, sinh hóa theo những cơ chế cụ thể.

Đông y, TẠNG TƯỢNG  hầu như không đề cập đến hình ảnh giải phẫu, mà mỗi TẠNG ( nội tang)  chỉ là TƯỢNG ( hình tượng).  Hình tượng về tính chất và công năng của mỗi tạng (phủ) trong mối liên quan chặt chẽ giữa các tạng  phủ với nhau, theo quy luật biến hóa ngũ hành, được thể hiện ra bên ngoài.

Ví dụ Tim – với Tây Y thì Tim hình dáng, thể tích, cấu tạo giải phẫu thế nào ai cũng rõ. BS chuyên khoa phẫu thuật tim thì còn nắm rõ  bản đồ chi tiết của  tim với mức phóng đại hàng trăm lần dưới kính hiển vi.

Nhưng Y Học Cổ Truyền thì không có tạng tim, mà có tạng Tâm. Tâm được hình tượng hóa với các chức năng chủ huyết mạch, chủ thần minh và tâm tàng ( chứa đựng) thần.  

Tây Y dùng khoa học Y hoc cơ sở, Y học thực nghiệm và Y học lâm sàng để làm chứng cứ cho mọi kết luận về Y học. Y Học Cổ Truyền dùng các lý luận ( Âm- Dương, Ngũ Hành, Tạng Tượng…) làm nền móng, kim chỉ nam cho mọi  hoạt động của Đông y.

    

II. PHÉP TẠNG PHỦ BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ LÀ GÌ ?

Dùng tứ chẩn thu thập các biểu hiện  lâm sàng, phân tích , sắp xếp, quy nạp, xác định đâu là chủ chứng, chủ chứng đó thuộc về tạng phủ nào, theo ngũ hành thì đâu là đầu mối sinh bệnh, giải quyết trực tiếp tạng phủ bị bệnh hay giải quyết căn nguyên mà tạng phủ khác gây ra cho nó ( tạng phủ đang bị bệnh ). Đó chính là phép Tạng phủ biện chứng luận trị của thầy thuốc Đông y.     

Ví dụ : 

III.KHÁM VÀ CHỮA CHỨNG TỲ HƯ  ( Chức năng tiêu hóa kém)

 
1. Tứ chẩn ( thu thập các triệu chứng lâm sàng)

  + Vọng ( nhìn) : thân hình gầy yếu, sắc mặt trắng xanh hay hơi vàng, lưỡi bệu ( không săn chắc) mép hai bên lưỡi in hằn dấu răng.

+ Vấn ( hỏi ) :

- Hỏi nguyên nhân :  do lao động quá sức; Lao tâm quá độ; Thu nhận các chất dinh dưỡng thiếu kéo dài ( do khẩu phần, do bệnh lý về gan, dạ dày , tụy…) hoặc phối hợp các nguyên nhân trên,

- Hỏi triệu chứng : ăn kém, không ngon miệng, không muốn ăn, cố ăn thì đầy bụng. Đại tiện thường phân nát.

+ Văn ( nghe, ngửi ) : tiếng nói nhỏ, thở ngắn hơi, ngại nói,. Ngửi phân ít có mùi thối thông thường.

+ Thiết sờ nắn và xem mạch :sờ cơ bắp teo nhẽo, lạnh. Mach hữu quan trầm nhược.

 
Qua khám bệnh nói trên, tập hợp được Hội chứng bệnh tỳ khí hư :


2. Chẩn đoán bệnh danh  : Tỳ khí hư

3. Phép chữa : kiện tỳ ích

4.Phương thang : chính là " Sâm linh bạch truật” phụ thêm " Bổ trung ích khí”. Củng cố cho thăng bằng âm dược và dương dược với " Quy tỳ” .  

 

IV.KHÁM VÀ CHỮA CHỨNG TỲ HƯ NẶNG :

      Các triệu chứng trên thể hiện nặng hơn. Cơ thể rất mệt mỏi. Sợ lạnh.Taychân lạnh, bụng lạnh. Sợ thức ăn, cố ăn vào thì ậm ạch, đầy tức, muốn ói ra. Đại tiện sống phân, hoặc ngũ canh tả ( sáng sớm dậy là đi đại tiện lỏng). Mạch hữu xích tế nhược.

Phép chữa :  Bổ hỏa sinh thổ

    Các Đại danh y xưa đã dạy : ” Bệnh đại hư phải bổ mẹ " . 

    Thổ hư thì bổ Hỏa. Sinh ra Tỳ Thổ là Mệnh Môn Hỏa . Mẹ Mệnh Môn Mỏa suy làm Tỳ Thổ Con không được ôn dưỡng. Được ví như nấu cơm có nước và gạo trong nồi, nhưng dưới nồi lửa kém quá thì làm sao gạo chin thành cơm được.

* Phương thang : chính là " Hữu quy hoàn”

    Bệnh này cho thuốc rất khó. thầy thuốc phải dụng dược như dụng binh mới có kết quả tốt. Khó vì tỳ đã hư lạnh mà bắt buộc phải dùng thục. Đây là bài Bát vị Quế phụ gia giảm. Thục là quân chủ của Bát vị thì bỏ thục đi không còn là Bát vị nữa.

     Nên tùy từng giai đoạn mà gia giảm. Đang ỉa chảy ( do bệnh viêm dạ dày mãn, viêm đại tràng mãn, viêm thận mãn, viêm gan mãn… có hội chứng tỳ thận dương hư ) thì phải đối chứng lập phương có thể chữa chứng trước, rồi mới chữa nguyên nhân cơ chế sinh bệnh – chữa gốc sau.  

     Khi đại tiện tạm ổn, dùng  " Hữu quy hoàn” với Thục chế lại Can khương, Sa nhân rồi  bồi khô và gia thêm nhân sâm, ngô thù, nhục khấu, đại hồi, thảo quả, bào khương …

     Giai đoạn sau cần củng cố xen kẽ lâu dài bằng  " Sâm linh bach truật  " với " Hữu quy hoàn

 

 



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn