THOÁI HOÁ CỘT SỐNG » Thoái hoá cột sống cổ

THOÁI HOÁ VÀ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ


BS  PHẠM THỊ MAI : THOÁI HOÁ VÀ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ- Tuỳ theo vị trí và mức độ , kiểu tổn thương mà lâm sàng biểu hiện các hội chứng , triệu chứng đa dạng hơn rất nhiều so với thoái hoá cột sống thắt lưng hay các đoạn cột sống khác. - Ở nhóm tuổi lao động ( 30 – 50 tuổi), trong các nghề, bị tác động lực vào cột sống cổ nhiều và kéo dài, thường hay bị bệnh 



THOÁI HOÁ VÀ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ

                                        BS  PHẠM THỊ MAI
               Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng

     Thoái hóa đốt sống cổ ngày càng có xu hướng gia tăng. Bệnh gặp chủ yếu ở người trưởng thành, đặc biệt ở người cao tuổi. Bệnh có ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống, đặc biệt có thể gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm.

      I.ĐẶC ĐIỂM THOÁI HOÁ VÀ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ

       1.Đặc điểm chung của thoái hoá cột sống
       Cột sống và đĩa đệm cột sống có quá trình dài, thoái hoá sinh học theo tuổi, diễn biến từ từ âm thầm, không biểu hiện triệu chứng. Cho đến khi tổn thương tích luỹ đủ để khởi phát triệu chứng mới được gọi là bệnh thoái hoá cột sống, trong đó có thoát vị đĩa đệm.
       Thoái hoá cột sống có nhiều nguyên nhân. Bệnh sinh chính là quá trình thoái hoá sinh học theo tuổi và kết hợp của yếu tố tác động cơ học, miễn dịch, chuyển hoá…
       2.Đặc điểm riêng của thoái hoá cột sống cổ
       Cột sống cổ có 7 đốt và được ký hiệu từ C1 - C7. Giữa hai đốt sống từ C2 trở xuống có các đĩa đệm gian đốt sống. Mỗi đĩa đệm được cấu tạo bởi nhân nhầy, vòng sợi, mâm sụn, có chiều cao 3mm bằng 2/5 chiều cao thân đốt sống.
      - Các khớp đốt sống cổ có cấu trúc rất nhỏ yếu so với chức năng chịu lực nhiều và lớn. cột sống cổ phải chịu lực tác động từ đầu xuống và toàn thân lên, đồng thời còn mang chức năng bản lề ( xoay, cúi, ngửa, nghiêng) nên dễ bị hư hỏng hơn cột sống các đoạn khác. Trong đó C5 - C6 bị tổn thương nhiều nhất.
      - Thoái hoá cột sống cổ thường xảy ra ở nhóm tuổi lao động 30 – 50 tuổi, trong các ngành nghề, bị tác động lực vào cột sống cổ nhiều và kéo dài.
      - Thoát vị đĩa đệm cổ thường đi kèm với các tổn thương thoái hoá cột sống cổ
      - Các hội chứng, triệu chứng đa dạng hơn rất nhiều so với thoái hoá cột sống thắt lưng ( do có liên quan rất nhiều với các rễ thần kinh ngoại biên, các dây thần kinh sọ não,  tuỷ cổ với các đường dẫn truyền trung ương , mạch máu và hạch giao cảm ...)
       - Đa số thoái hoá trên nhiều đốt sống, cho nên,các triệu chứng thường xảy ra lan toả hơn
       - Những dấu hiệu định khu không luôn có biểu hiện điển hình, thậm chí còn có những biểu hiện triệu chứng khác lạ, dễ chẩn đoán nhầm.

II. CÁC TỔN THƯƠNG THOÁI HOÁ CỘT SỐNG CỔ

     Các biến đổi sinh – bệnh lý gây thoái hoá ở tất cả các thành phần cấu trúc giải phẫu vùng cột sống cố
1.Thoái hoá và thoát vị đĩa đệm : 
nhân keo mất nước, mất proteoglycan teo xẹp, đồng thời bao xơ bị giòn, đứt,  rách. Nhân keo thoát ra ngoài bao. Nếu dây chằng thoái hoá kém đàn hồi, cùng với thoái hoá các cấu trúc quanh khoang đĩa đệm làm giảm chức năng giữ nhân keo gắn vào bề mặt sụn diện khớp, khối nhân keo dễ thoát ra khỏi vị trí bình thường ( chính giữa khe khớp liên đốt), nằm chèn vào rễ thần kinh, mạch máu hoặc tuỷ sống.
2.Dây chằng vàng thoái hoá, dây chằng vàng dai, chắc giữ vững cho đĩa đêm và làm giới hạn co, duỗi cho đốt sống cổ. Nó bị cốt hoá, cứng làm cổ hạn chế vận động, bị phì đại ảnh hưởng đến tuỷ cổ và mô liên quan..
3. Gai xương hình thành trong lỗ thần kinh kèm với dính màng nhện làm hẹp lỗ thần kinh Lỗ thần kinh hẹp cùng với tác động của chuyển động cổ và tuỷ sẽ làm rễ thần kinh tổn thương thêm nặng.
4. Hẹp lỗ liên hợp: thoái hoá các cấu trúc gần lỗ liên hợp làm hẹp lỗ liên hợp ( thân đốt sống,gai xương, lối đĩa đệm…), .chèn ép động mạch, rễ thần kinh
5. Hậu quả: các tổn thương thoái hoá nói trên gây rất nhiều hội chứng , HC rễ dây thần kinh, HC tuỷ cổ, HC động mạch tuỷ cổ, HC rối loạn giao cảm cổ …

    III. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG 
     Sau một thời gian dài thoái hoá gây hư yếu các đốt sống, đĩa đêm và mô quanh chúng. Nhân có một tác động mạnh vào cột sống, bệnh xuất hiện triệu chứng rầm rộ .Tuỳ thuộc vào vị trí trí, thể loại và mức độ thoái hoá cột sống và thoát vị  mà  lâm sàng có biểu hiện khác nhau. Trên thức tế đơn giản chỉ là một hội chứng hoặc phức tạp phối hợp nhiều hội chứng 

        1. HỘI CHỨNG CỘT SỐNG CỔ
        (hội chứng cổ cục bộ )
        Đau vai gáy và vẹo cố cấp, tái diễn từng đợt, Các đợt tái phát thường do yếu tố như : vận động cổ, công việc phải cúi đầu lâu, làm việc căng thẳng, thời tiết lạnh, tắm nước lạnh…hay strres. Đau tăng lên khi lao động và giảm khi nghỉ ngơi.
- Đau khu trú vùng cột sống cổ và các cơ lân cận
- Vẹo cố cấp :  đầu bệnh nhân bị vẹo hẳn sang một bên, sờ nắn sẽ thấy hiện tượng căng cơ các cơ vùng vai – gáy. Vận đôg nghiêng cổ về phía bên đối diện hoàn toàn bất lực. Toàn bộ vùng cột sống cổ bị ngay đơ, cứng chắc.…
- Khám có khi phát hiện điểm đau cạnh sống cổ, hay ở các mỏm gai sau, mỏm ngang của cột sống cổ.
- Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ: đau cột sống cổ tăng lên khi vận động, đau vùng gáy một hoặc hai bên, hạn chế vận động cột sống cổ ở các tư thế như gấp, duỗi, nghiêng, xoay…
- Không có dấu hiệu tổn thương thần kinh khu trú.
- Chụp cột sống cổ thường quy có hình ảnh hư xương sụn cột sống cổ nhẹ hoặc chưa phát hiện được trên hình ảnh. 

       2.HỘI CHỨNG  RỄ THẦN KINH CỔ
       Thường gặp nhất là đau các rễ C6, C7 . Ít gặp hơn là các rễ thần kinh C4, C5, D1. Đai một bên , hiếm gặp đau cả hai bên,  Các  rễ thần kinh.bị chèn ép hay bị kích thích do  thoát vị đĩa đệm sau bên hoặc do hẹp các lỗ liên đốt bởi gai xương hoặc do cả hai nguyên nhan trên. Hội chứng rễ thần kinh cổ với các biểu hiện có thể có như sau 
       *Hội chứng  cổ - vai - cánh tay 
Đau theo kiểu rễ và dây thần kinh: đau sau vai gáy lan xuống theo đường đi của thần kinh cánh tay và có tính định khu. Nếu chèn ép rễ nặng , có cảm giác đau đau  buốt sâu trong cơ xương, vẹo cổ và cột sống cổ ở tư thế gù. Đau tăng khi ho, hắt hơi, hoặc căng giãn cánh tay hay vai cổ. Đau giảm khi nghỉ ngơi hay khi cố định cổ.
       * Rối loạn cảm giác : giảm hoặc mất cảm giác kiểu. Mất cảm giác khéo léo của tay ( ít gặp ) rễ hoặc dị cảm (kiến bò, tê bì, nóng rát…) ở da theo khu vực rễ thần kinh chi phối. 
       *Rối loạn vận động : Ngoài nguyên nhân hạn chế vận động do đau; BN còn bị hạn chế vận động do yếu,   bại một số cơ của chi trên, giảm phản xạ gân xương. Bệnh nặng có tình trang teo cơ cánh tay, ngón tay.
       * Các dấu hiệu kích thích rễ :
- Nghiệm pháp Spurling (+): ấn đầu bệnh nhân xuống trong tư thế ngửa cổ và nghiêng đầu về phía đau thì tạo ra đau từ cổ lan xuống vai, cánh cẳng tay và ngón tay.
– Dấu hiệu bấm chuông: ấn vào điểm cạnh sống tương ứng lỗ gian đốt sống , xuất hiện đau dọc từ điểm bấm xuống vai tay theo sự phân bố rễ thần kinh.
      *Chẩn đoán xác định bằng chụp cộng hưởng từ. 



Để lại tin nhắn để được tư vấn