CÁC CHỨNG TÊ LIỆT » Liệt hai chân

VIÊM TUỶ DO NHIỄM VIRUS, VI TRÙNG, NHIỄM ĐỘC


  BS  PHẠM THỊ MAI: VIÊM TUỶ DO VIRUS có đặc điểm  thường gặp ở trẻ 5-15 tuổi. Một đoạn tủy sống viêm tự miễn cấp tính, với biểu hiện liệt hai chân, mất cảm giác dưới nơi tổn thương, rối loạn cơ tròn. Virus gây bệnh là : Herpes, echo virus, zona, epstein-barr, hepatis B, Influenza, Mycopllasma pneumoniae. Tiên lượng 60% hồi phục sau 2-12 tuần. Sau 6 tháng không hồi phục là có tiên lượng xấu: khoảng 15%. 3 % chuyển thành bệnh xơ cứng rải rác


 
VIÊM TUỶ DO NHIỄM VIRUS, VI TRÙNG, NHIỄM ĐỘC
                            BS  PHẠM THỊ MAI 
           Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng

    Viêm tuỷ cấp bao gồm những tổn thương cấp tính ở tuỷ sống, do nhiều nguyên nhân gây nên, có những thể lâm sàng khác nhau. Bao gồm: viêm tuỷ xám, viêm tuỷ trắng hay toàn bộ tuỷ được gọi là viêm tuỷ ngang .Tổn thương rải rác ở và lan rộng là viêm tuỷ rải rác.
    Viêm tủy ngang cấp là thể lâm sàng thường gặp nhất của viêm tủy cấp ở đoạn tủy phình thắt lưng, đoạn tủy ngực, rất ít khi gặp ở đoạn tủy cổ.

    I. LÂM SÀNG
 
      1.GIAI ĐOẠN SHOCK TUỶ ( ở đoạn tủy lưng)
      Shock tủy xảy ra ngay tức khắc, là sự giải phóng đột ngột các khoanh tủy bị tổn thương khỏi sự kiểm soát ở phía trên. Làm cho các đoạn tủy sống bên dưới mức tổn thương bị mất chức năng. Các triệu chứng phát triển nhanh chóng trong một vài giờ và xấu đi trong một vài ngày ( số ít tiến triển chậm trong vài tuần ). Cả chân liệt cùng các dấu hiệu rối loạn khác của hai bên của cơ thể, nhưng cũng có khi chỉ 1 bên. Dấu hiệu và triệu chứng điển hình bao gồm:
*Đau : Đau có liên quan với bệnh viêm tủy ngang thường bắt đầu đột ngột ở lưng,, thắ lưng ( ở cổ ít gặp hơn ). Nhói và cảm giác tức cũng có thể lan xuống ống chân xung quanh bụng.( hoặc cánh tay )
* Cảm giác bất thường. Một số người bị bệnh viêm tủy ngang có cảm giác tê, lạnh, ngứa hoặc nóng ran. Một số nhạy cảm đặc biệt với cảm ứng ánh sáng của quần áo hoặc quá nóng hoặc lạnh. Có thể cảm thấy da ngực, bụng hoặc chân bị quấn chặt bởi một cái gì đó.
* Yếu liệt hai chân hoặc tay : Liệt mềm hai chân, thành bụng, phần dưới của thân. Giảm trương lực cơ, mất các phản xạ gân xương, phản xạ da và niêm mạc. Một số người bị yếu nhẹ nói rằng họ đi bị vấp, kéo lê một chân hoặc chân của họ cảm thấy nặng nề khi di chuyển. Những người khác có thể phát triển tê nghiêm trọng.
*Mất các loại cảm giác : nông, sâu và nội tạng dưới mức tổn thương.
* Cơ vòng rối loạn ( kiểu trung ương ) : Tiểu nhiều lần, tiểu không tự chủ, tiểu khó khăn hoặc bí tiểu. Táo bón .
* Rối loạn thần kinh thực vật : vận mạch và tiết mồ hôi.
* Rối loạn dinh dưỡng: teo cơ, phù và loét nhanh.

     2. GIAI ĐOẠN TỰ ĐỘNG TUỶ
    Giai đoạn tự động tủy sau giai đoạn sốc tủy, từ tuần thứ 3 - 6 và có thể tiếp diễn trong 4 - 6 tháng : Babinski (+). Dấu hiệu 3 co ( +). Các phản xạ gân xương nhậy lan tỏa và đa động. Trương lực cơ tăng dần.

      ( Lâm sàng thể bệnh Viêm tủy rải rác: liệt hai chân diễn biến như trên, riêng phản xạ gân xương tăng ngay ngày đầu, và vẫn còn cảm giác sâu là cảm giác nhận biết cơ thể ).   

     3. GIAI ĐOẠN DI CHỨNG VÀ BIẾN CHỨNG
      60% hồi phục sau 2-12 tuần. Sau 6 tháng không hồi phục là có tiên lượng xấu : khoảng 15%. Còn lại 3 % chuyển thành bệnh xơ cứng rải rác. Các bệnh nhân hồi phục ít hoặc không hồi phục có hậu quả sau :
* Đau : phổ biến nhất , tồn tại lâu dài gây suy nhược.
* Co cứng cơ. đặc biệt là ở chân và mông làm tăng cảm giác đau.
* Tê hai chân, một chân hoặc tê cánh tay ( một phần hoặc hoàn toàn ) có thể kéo dài
* Rối loạn chức năng tình dục. khó khăn trong việc đạt được sự cương cứng hoặc đạt cực khoái. Phụ nữ có thể khó đạt cực khoái.
* Loãng xương. Do hạn chế vận động trong thời gian dài và có nguy cơ gãy xương.
*Trầm cảm hoặc lo âu vì thay đổi lớn trong cuộc sống, căng thẳng về mọi mặt ( đau mãn tính, khuyết tật, rối loạn chức năng tình dục …)
* Bệnh rất nặng : liệt không hồi phục, teo cơ , phù , loét , nhiễm trùng ( da nơi tỳ đè , phổi và tiết niệu …), tàn phế.

II.CẬN LÂM SÀNG

-Dịch não tủy: protein miễn dịch cho thấy viêm. Một số ca có tăng albumin, bạch cầu.
- Xét nghiệm máu: vss tăng,  công thức bạch cầu thay đổi. Kháng thể liên kết với bệnh Devic (+)có nguy cơ gia tăng nhiều đợt bệnh viêm tủy ngang (bệnh Devic là viêm tuỷ và các dây thần kinh mắt). Xét nghiệm máu khác có thể xác định nhiễm trùng có thể là một yếu tố góp phần trong bệnh viêm tủy ngang hoặc loại trừ các nguyên nhân khác có triệu chứng.
- Cấy dịch não tủy để chẩn đoán loại trừ.
- Huyết thanh đặc hiệu xác định virus gây bệnh ; khó
- MRI tủy sống: vùng tủy tổn thương tăng khẩu kính và tăng tín hiệu T2 ( khoảng 70% bệnh nhân viêm tủy ngang có kết quả trên )

      III.CHẨN ĐOÁN
1. Chẩn đoán xác định dựa vào lâm sàngMRI tuỷ sống.. Chẩn đoán định khu căn cứ vào rối loạn vận động và cảm giác.
2. Chẩn đoán nguyên nhân : dựa và cận lâm sàng là chính
3. Chẩn đoán phân biệt                                                                                     
 - Các bệnh viêm tuỷ tự miễn khác không do virus
      + Đa xơ cứng : hệ thống miễn dịch phá hủy myelin quanh các dây thần kinh trong não và dây thần kinh cột sống.  Viêm tủy ngang thường biểu hiện chỉ ở một bên của cơ thể.

      + Bệnh Devic : viêm tuỷ cắt ngang cả hai bên của cơ thể. Có thể có viêm và mất myelin quanh các dây thần kinh cột sống và dây thị giác, các dây vận nhãn mắt.
      + Bệnh Lupus, có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ thể, HC Sjogren, gây khô miệng và mắt nặng, cũng như các triệu chứng khác.
- Viêm đa rễ và dây thần kinh ( HC Guillain Barre ) : liệt mềm hai chân hoặc tứ chi, không rối loạn cơ tròn, không mất cảm giác nông, sâu hoàn toàn dưới nơi tổn thương.
- U tủy  ; thường bệnh xuất hiện từ từ, thường liệt cứng ưu thế một chi. Có HC ép tuỷ: phản xạ gân gối rất tăng, Babinsky (+), chụp MRI có hình ảnh khối choán chỗ.
- Apxe ngoài màng cứng : dấu hiệu sớm là sốt, mệt mỏi, đau lưng. Sau đó đau lưng tăng dần,nôn, HC ép tủy, liệt hai chân, rối loạn cơ tròn. Chụp MRI có hình ảnh khối apxe đè ép vào tuỷ

     IV. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ GÂY BỆNH

   1.DO NHIỄM VIRUS THỨ PHÁT
    Đây là nguyên nhân đứng hang đầu trong các nguyên nhân viêm tuỷ
    Liệt hai chi dưới do nhiễm virus thứ phát rất thường gặp ở trẻ 5-15 tuổi. Một đoạn tủy sống viêm tự miễn cấp tính, với biểu hiện liệt hai chân, mất cảm giác dưới nơi tổn thương, rối loạn cơ tròn
     Gần 2/3 trẻ có bệnh sử nhiễm một trong số các virus sau đây  trước khi viêm tuỷ. Virus gây bệnh là các virus hướng thần kinh: Herpes, echo virus, z ona, epstein-barr, hepatis B, Influenza, Mycopllasma pneumoniae, sởi, quai bị, rubella, bạch hầu, uốn ván và hãn hữu là một vài vắc xin. Trong hầu hết trường hợp, các rối loạn viêm tổn thương tuỷ  xuất hiện sau khi một người đã hồi phục triệu chứng của bệnh nhiễm virus nhiễm virus.cấp tính..Các virus kích hoạt, rối loạn miễm dịch, gây ra sự tấn công tự miễn ( qua trung gian tế bào và thể dịch).  Làm  thương tổn màng myelin của tế bào thần kinh tuỷ và viêm quanh mạch máu. Hậu quả là viêm tuỷ cắt ngang ( và có thể cùng với viêm dây thần kinh ngoại biên, sọ não khác)
     
    2
.DO CÁC NGUYÊN NHÂN KHÁC

     Các nguyên nhân sau ít gặp hơn
1. Nhiễm virus tiên phát
Các virus như virus Bại liệt , virus dại, poliovirus, ARBO-virus, VZV, HSV…Chúng tấn công trực tiếp vào sừng trước của tủy gây hội chứng tuỷ cắt ngang. Liệt mềm cấp tính hai chân, hoặc liệt tứ chi và rối loạn chức năng thần kinh sọ với rất ít biểu hiện rối loạn cảm giác.  Giai đoạn cấp, sốt, đau lưng, yếu chân, và rối loạn cơ tròn. Mức rối loạn cảm giác giúp xác định vị trí tổn thương của tủy sống. Liệt cứng xảy ra ở giai đoạn muộn. 

2.Nhiễm vi khuẩn: Các vi khuẩn trực khuẩn lị, thương hàn, phế cầu, tụ cầu, liên cầu, giang mai… và các loại nhiễm khuẩn huyết khác gây nên.
3. Nhiễm độc: arsen, chì, thuỷ ngân và các kim loại nặng khác.
4. Viêm màng nhện tuỷ thứ phát : tổn thương xơ, dầy tổ chức màng nhện của đoạn tuỷ sống. Chưa rõ nguyên nhân được xếp vào bệnh tự miễn. Lâm sàng tiến triển từ từ với rối loạn vận động cảm giác không đều nhau, có thể phối hợp vừa tổn thương trung ương vừa tổn thương ngoại vi.

      V. ĐIỀU TRỊ
      Nguyên tắc ; điều trị toàn diện và kết hợp Đông – Tây y
1.Thuốc 
Methylprednisolone (Solumedrone) 20-30 mg/kg tiêm tĩnh mạch 3-5 ngày. Tiếp theo là Prednisolone 1mg/kg trong 3-4 tuần sau giảm dần liều..Vitamin nhóm B: B1, B6 nn 100mg/ngày. B12: 500 microgram/ ngày
Thuốc thang đông y sắc uống theo y lện bác sỹ chuyên khoa.
2. Phục hồi chức năng sớm. xoa bóp, bấm huyệt , châm cứu, thuỷ châm hai chân, tập vận động sớm.
3. Dinh dưỡng đảm bảo đủ chất đủ lượng.
4.Chăm sóc : chống loét, đề phòng nhiễm khuẩn đường tiết niệu

                                                                      BS  PHẠM THỊ MAI

 



Để lại tin nhắn để được tư vấn