THOÁI HOÁ CỘT SỐNG » Cận lâm sàng

X QUANG, MRI, CT CỘT SỐNG VÀ TUỶ SỐNG ( PHẦN II )


 BS  PHẠM THỊ MAI : Chụp MRI phát hiện thoái hóa cột sống sớm, nhất là hình ảnh thoát vị đĩa đệm, có giá trị số 1 trong chẩn đoán thoát vị đĩa đệm. MRI đánh giá chính xác tổn thương tuỷ và phần mềm hơn hẳn CT - Scan.Tuy nhiên, chụp xương CT – Scan rõ và chính xác tổn thương xương hơn so với MRI. Trong một số trường hợp vần cần đến X quang thường quy, chụp đĩa đệm, quang bao rễ thần kinh quy ước và xạ hình.

X QUANG, MRI, CT CỘT SỐNG VÀ TUỶ SỐNG ( PHẦN II )
                   
                                  BS  PHẠM THỊ MAI 
             Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng


II. KHẢO SÁT HÌNH ẢNH CHỤP  MRI CỘT SỐNG 
Chụp MRI phát hiện thoái hóa cột sống sớm, nhất là hình ảnh thoát vị đĩa đệm, có giá trị số 1 trong chẩn đoán thoát vị đĩa đệm.
MRI đánh giá chính xác tổn thương tuỷ và phần mềm hơn hẳn CT - Scan
Tuy nhiên, chụp xương CT – Scan rõ và chính xác tổn thương xương hơn so với MRI
Trong một số trường hợp vần cần đến X quang thường quy, chụp đĩa đệm, quang bao rễ thần kinh quy ước và xạ hình.

Các hình ảnh bệnh lý cột sống trên phim MRI :

THOÁI HOÁ CỘT SỐNG 

1.Bề mặt thân đốt sống
: thoái hoá theo ba mức độ :
- Type I: tăng mạch máu dưới sụn bề mặt, tín hiệu T1 giảm, T2 tăng.
- Type II: thiếu máu tủy xương mạn tính, mờ trên tất cả các chuỗi xung.
- Type III: xơ bề mặt thân sống,hư xương, giảm tín hiệu tất cả các chuỗi xung,
2. Gai xương: gai thân đốt hướng ngang, gai của dây chằng hướng dọc, dài 2-3 mm
3.Thoái hoá đĩa đệm :
- Gđ sớm: nhân keo mất nước nhẹ, tín hiệu tăng đồng nhất.
- Gđ muộn: đĩa đệm dẹt , teo nhỏ hay biến dạng, nhân keo mất nước nhiều, T2 tín hiệu giảm, mất phân biệt nhân đĩa và vòng xơ, lồi đĩa đệm.
* Các ảnh cắt ngang cho thấy hướng và các kiểu thoát vị (trung tâm, cạnh trung tâm và lỗ ghép)
- Khối thoát vị vào ống sống, chèn tủy, hoặc các rễ thần kinh
- Khối thoát vị xâm nhập vào các chỗ bị lõm khuyết trên bề mặt thân đốt,
- Mảnh nhân keo rời ra, vào ống sống, cốt hoá giống như một chồi xương.
* Các ảnh cắt dọc đánh giá toàn bộ cột sống,vị trí, đơn tầng hay đa tầng thoát vị.
Phối hợp hình ảnh cắt dọc và ngang đánh giá được mức độ thoát vị. Nhân keo xâm lấn vào mô mềm làm phù nề mô mềm quanh vùng thoát vị, thường kèm hẹp ống sống và lỗ liên hợp chèn ép rễ thần kinh, chèn ép tuỷ, phù tủy, đè ép khoang dịch não tủy/
MRI với chất thuận từ ( đĩa đệm không ngấm thuốc), phân biệt được khối xơ và thoát vị đĩa đệm tái phát
4. Hẹp ống sống, hẹp ngách bên và hẹp lỗ liên hợp: gây ra bởi
- Khối thoát vị, gai xương phía sau, phì đại dây chằng, thoái hoá mấu khớp có thể kết hợp với mất độ cong sinh lý. Viêm trong và xung quanh rễ thần kinh bị nhốt.Thoái hoá mỡ tuỷ xương tuỷ cổ hay tuỷ thắt lưng – cùng
- Khối u hay Hẹp ống sống cổ thường kèm hình ảnh do thoát vị đĩa đệm, gai thoái hóa và phì đại dây chằng vàng.
5. Tổn thương dây chằng : dây chằng dọc trước , dọc sau và dây chằng vàng bị gai thoái hóa và phì đại
6. Khớp mỏm móc : đốt sống cổ thoái hoá, ép chặt vào nhau, kèm đĩa đệm thoái hóa, dẹt xuống, khe khớp hẹp, thoái hóa gai xương, hẹp lỗ liên hợp.

VIÊM NHIỄM TRÙNG CỘT SỐNG
1. Do vi trùng sinh mủ: Staphylococcus aureus ( 55%–90%) Streptococcus, Pneumococcus, Enterococcus, Escherichia coli, Salmonella, Pseudomonas aeruginosa và Klebsiella…
Chỉ tổn thương một thân đốt, tín hiệu T1 thấp,T2 cao. Trong khoang đĩa đệm tín hiệu T1 thấp, tín hiệu T2 giống dịch. Không có bất thường đáng kể ở đĩa đệm hoặc thân sống kế cận.
Kết quả sinh thiết khẳng định nhiễm trùng do Staphylococcus aureus nhạy với methicillin.
2. Do nhiễm trùng lạnh
Bề mặt hai đốt sống liên tiếp và đĩa đệm bị phá hủy, bất thường tín hiệu đĩa đệm và tủy xương, abscess ngoài màng cứng hoặc cạnh sống, có tín hiệu điển hình trên T1 và T2, tủy xương và các dạng bắt thuốc bất thường. Vị trí tổn thương ở L là 50%, N 35% và C 15 %.
- Mycobacterium tuberculosis ( lao ) thường gặp tổn thương nhiều hơn ba tầng đốt N, nơi đó gù. Hủy đốt sống-đĩa đệm nặng ở T2.Ổ abscess cạnh sống.
- Trực khuần Gramme(-) Brucella : viêm xương tủy cột sống thưởng ở L, lan tỏa, có thể lan vào đĩa đẹm trên T2. cấu trúc đốt sống còn nguyên. Sau tiêm thuốc : tăng tín hiệu đĩa đệm rất rõ, và khớp liên mấu tổn thương. Hiếm thấy biến dạng gù và abscess cạnh sống.
3. Nấm aspergillus
Đĩa đệm không tăng tín hiệu trên T2W và STIR ( giống viêm cột sống do vi trùng sinh mủ) . Khe nhân đĩa có thể còn được bảo tồn ( ngược lại với viêm cột sống vi trùng sinh mủ) .
Đĩa đệm có thể không bị xâm lấn và viêm, độ lan dưới dây chằng của abscess và tổn thương nhiều khớp đốt sống liên tiếp thì giống lao
4. Nang sán

PHẦN ĐỌC THÊM 

Nguyên lý hoạt động của máy chụp cộng hưởng từ MRI : trong các mô của cơ thể chứa 60-70% nước, nguyên tử Hydro trong phân tử nước phát ra điện từ, lại hấp thu thêm điện từ của máy MRI, sẽ bức xạ lại dưới dạng các tín hiệu có tần số vô tuyến. Điện toán xử lý các chùm tia bức xạ để tạo ra hình ảnh. Khi mô bị tổn thương phân bố nước thay đổi và hoạt động từ tại đó cũng thay đổi so với mô lành, máy ghi hình được các thương tổn đó, màu trắng là cường độ tín hiệu cao, màu đen là không có tín hiệu. Nếu cấu trúc nước có màu tối thì đó là ảnh T1W, nếu màu sáng thì chính là ảnh T2W. Nước ( mô bị phù nề, viêm, nhiễm trùng và các nang, dịch não tuỷ trong các não thất và ống sống, nước tiểu trong bàng quang…có cường độ tín hiệu yếu trong thời gian T1 và thể hiện bằng màu đen trên phim T1W. Nhưng nước lại có  mật độ proton cao nên đầu thời gian T2, có cường độ tín hiệu cao  nên thể hiện bằng màu trắng trên phim T2W.
                                                                               
                                                                               BS  PHẠM THỊ MAI 

Tư vấn bệnh thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm  :
  BS MAI - 0913 494 474



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn