RỐI LOẠN THẦN KINH » Tâm và chữa bệnh tâm

TÂM ? TRONG Y HỌC ĐÔNG & TÂY


 PHÒNG KHÁM BỆNH ĐÔNG - TÂY Y KẾT HỢP Bác sĩ Mai Đà Nẵng :TÂM LÀ GÌ TRONG Y HỌC ĐÔNG & TÂY   Tâm là tạng tượng đứng đầu lục phủ ngũ tạng. Tâm có Tâm dương là Tâm khí, Tâm hỏa. Nhờ Tâm khí, tinh thần sáng suốt, tỉnh táo và Tâm âm (Tâm huyết) tưới nhuần đến mọị tế bào, mô trong cơ thể. Về giải phẫu học: tạng tâm hữu hình trên nền tảng mức độ (không hoàn toàn) là tim và não. Về sinh lý học:  tính vô hình của tạng tâm là hoạt động của hệ thần kinh – nội tiết và hệ tuần hoàn. 


TÂM ? TRONG Y HỌC ĐÔNG & TÂY 
PHÒNG KHÁM BỆNH ĐÔNG - TÂY Y KẾT HỢP Bác sĩ Mai Đà Nẵng 

     Phạm trù , khái niệm và nghĩa của tâm rất rộng lớn trong nhiều lĩnh vực của các nền triết học, tôn giáo, ngôn ngữ học….
     Trong phạm vi bài này SKLS chỉ bàn về phạm trù Tâm trong Y học cổ truyên kết hợp Y học hiện đại

I.TẠNG TƯỢNG

    Trước khi bàn về tạng Tâm, chúng ta hiểu Tạng tượng là gì ? Tạng tượng là danh từ chỉ ngũ tạng : Tâm, Can, Tỳ, Phế , Thận trong cơ thể
    Trên nền tảng giải phẫu học ở một mức độ nhất định, mỗi tạng tượng là biểu tượng chức năng của một hay vài hệ thống cơ quan, các chức năng này trong mối liên hệ với các chức năng tạng tượng khác trong cơ thể và trong mối liên hệ thống nhất với môi trường ngoài. 

II.TẠNG TÂM  LÀ GÌ ?

   Trong cơ thể, Tâm là đại chủ của lục phủ ngũ tạng.
  - Trong  tạng tượng học thì  thì tạng tâm có 2 phần : 
           Phần tạng  là cấu trúc hữu hình của tâm , là tâm âm ( tâm huyết)  đó là quả tim, mạch, huyết. Tâm âm chủ huyết mạch
           Phần tượng là phần vô hình của tâm, là tâm dương, tâm khí . Tâm khí chủ về  tinh thần.   
   - Đối chiếu qua Y học hiện đại
           Về giải phẫu học: tạng tâm hữu hình trên nền tảng mức độ (không hoàn toàn) là tim và não. 
            Về sinh lý học: chức năng của tạng tượng tâm  là hoạt động của hệ thần kinh – nội tiết và hệ tuần hoàn. 
   - Trong ngũ hành: tạng tâm thuộc hỏa .Hỏa là một trong hai 2 dạng vật chất ( Thủy – Hỏa)  căn bản đầu tiên tạo nên vũ trụ cũng như sự sống của con người, nên tạng tâm là Thiếu Âm quân chủ, chủ thể sự hoạt động sinh mệnh của cơ thể. Hỏa của Tâm là quân Hỏa, lục phủ ngũ tạng nhờ vào sự nóng ấm ấy mà phát sinh, phát triển. Trong khi đó Hỏa của Tâm bào, Tam tiêu của Thận đều là tướng hỏa. Tất cả nhằm bổ sung và hỗ trợ cho quân hỏa.
   - Trong Kinh dịch: tạng tâm ứng với qủe Ly (2 vạch liền ở trên và dưới, giữa là 1 vạch đứt, giống cái bếp có miệng lò), tượng trưng cho lửa, nóng, sáng, mặt trời, văn minh: nên tạng tâm là nơi xuất phát của thần minh, sự sáng suốt, minh mẫn của mỗi con người
   - Trong bát quái : con người sinh ra được Thủy làm ‘tinh’, được Hỏa làm ‘thần’, ‘tinh’ và ‘thần’ hợp lại khí tụ mà thành có hình. ‘Tinh’ làm nên hình, ‘thần’ phụ bám vào hình, khí tan thì ‘thần’ trở về chỗ không.
   -  Về bệnh lý: tạng tâm có bệnh, thì sự hoạt động của các tạng phủ khác cũng sinh rối loạn, mà sinh bệnh theo. Hoạt động của thần minh cũng ảnh hưởng đến huyết mạch

III. CHỨC NĂNG CỦA TẠNG TÂM

Về chức năng : tâm chủ thần trí và chủ huyết mạch.

1. Tâm chủ thần trí, Tâm tàng thần

   Tâm chủ thần trí  do Tâm dương ( là Tâm khí, Tâm hỏa) đảm nhiệm là chính:  tâm dương  làm chủ thể cho hoạt động tinh thần, ý thức, tư duy vận động và là nơi biến hóa của thần.
   Thầy thuôc đánh giá chức năng tâm của BN chính là xem Thần. Biểu hiện thể hiện qua ánh mắt, lời nói, cử chỉ, thái độ giao tiếp, vận động.
Người sức sống mạnh, tinh thần sáng suốt, cười luôn: là thần thịnh vượng.
BN ánh mắt tinh nhanh, tỉnh táo, hỏi trả lời bình thường, lưỡi linh hoạt, tứ chi vận động linh hoạt là thần còn bình thường.
BN sức sống yếu, tiếp xúc kém, phản ứng chậm chạp, buồn bã: tâm khí hư, thần trí kém.
BN  mê sảng, lơ mơ, hôn mê. …là thần suy
BN ánh mắt lờ đờ, hỏi trả lời không được, lưỡi lệch vẹo, nói năng ngọng, không điều khiển đúng các động tác là có vấn đề tổn thương não ảnh hưởng đến thần  
BN cười nói vô cớ, hoặc buồn rầu ủ rũ, hỏi không nói, hoảng sợ: là thần loạn
BN mắt đờ ra (mât phản xạ giác mạc) là tâm khí  bị thương,  thần đi mất thì chết.
    Tâm tàng thần:  Thần được sinh ra từ tinh (*),Tinh bao gồm tinh tiên thiên phối hợp với tinh hậu thiên, rồi tàng trữ ở Tâm. Thần hoạt động được nhờ tinh và huyết. Thần là tiếng gọi chung về hiện tượng hoạt động bao gồm tinh thần, ý thức, tri giác, vận động)

2. Tâm chủ huyết mạch
+Tâm âm là tâm huyết : mạch là đường ống của huyết lưu hành, tưới huyết và tân dịch tươi nhuần đến lục phủ ngũ tạng. Nhờ vào sự nuôi dưỡng của Tâm huyết mà ngũ tạng lục phủ hoạt động dược. Tâm khai khiếu ra lưỡi và biểu hiện ra mặt, nên thầy thuốc đánh giá chức năng của tâm huyết là quan sát sắc mặt, và lưỡi là chính.
     Người sắc mặt tươi sáng, hồng hào hồng, chót lưỡi hồng, nhuận : do thần được nhờ huyết dịch thịnh vượng
     BN sắc mặt nhợt nhạt kém tươi, chót lưỡi nhợt, hồi hộp, mất ngủ, hay mê, hay quên do Tâm huyết hư, huyết không đầy đủ.
     BN nói sảng, môi khô , lưỡi đỏ và nứt , chót lưỡi đỏ , tiểu tiện đỏ và ít: tâm huyết nhiệt
     BN mặt xạm đen, môi tím, lưỡi có mảng ứ huyết: là huyết  vận hành bị trở ngại, huyết ứ
 
III.(*) THẦN ĐƯỢC SINH RA TỪ TINH 

    Mạng sống của con người bắt đầu từ tinh, sống được là nhờ khí, chủ sinh mạng là thần
    Tinh là phần thuần khiết và quý báu, là  cơ sở vật chất tạo nên con người và các loại hoat động sinh hóa sinh lý của sự sống. Tinh có nguồn gốc di truyền ( gen) và các vật chất ( thức ăn, o xy …) chuyển hóa thành.     
 
1. Tinh tiên thiên:  bẩm thụ từ tinh cha mẹ khi phôi thai bắt đầu hình thành. Đó chính là bộ gen trong hợp tử mới tạo thành phôi thai, bộ gen này điều khiển toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển, sinh sản và già đi của một con người.
     Ngoài ra bào thai được nguồn dưỡng chất từ mẹ chuyển qua nhau đến nuôi dưỡng cũng thai cũng thuộc về tinh tiên thiên.
2. Tinh hậu thiên
   Tinh chất từ thức ăn, và khí trời được chuyển hóa tạo ra huyết, khí, tân dịch và rất nhiều các chất sinh học.
    Các tinh chất dinh dưỡng được chuyển đến toàn bộ các tế bào của các  mô , cơ quan ddeerthanm gia đồng hóa và dị hóa, nuôi sống tế bào
    Các yếu tố khác nhau trong huyết,  khí và các chất sinh học được chuyển đến các mô , cơeus tố cụ thể nào tùy thuộc vào nhu cầu và chức năng của mỗi mô, mỗi cơ quan. Các yếu tố này tổng hợp nên chất tinh hoa có tính đặc trưng của mỗi mô, cơ quan..
 -  Chất tinh hoa ở não và thận : là các chất tinh hoa đặc biệt nhất và quan trọng nhất,  có thể hiểu được là hormons. Não và thận điều khiển được toàn bộ các tạng phủ, thông qua hoạt động thần kinh và hormons .
  -  Tinh sinh dục :  noãn và dịch hoàn cũng chịu tác động của hormons trên não và thượng thận để tạo tinh trùng ( đàn ông ) và noãn ( với đàn bà). Tinh sinh dục đảm bảo sự phat triển hình thể đặc trưng giới tính, chức năng sinh lý tình dục và sinh sản,
  -  Tinh hoa cốt tuỷ đông y gọi là Tinh yếu tâm. Loại tinh này được trữ ở tủy xương và một phần lưu hành khắp cơ thể, chính là các yếu tố bạch cầu, kháng thể và thể dịch khác có vai trò bảo vệ cơ thể, phòng chống lại các yếu tố ngoại lai có hại.

IV. LƯU Ý  ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ 

Theo nguyên tắc con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con, Và xung khắc thái quá thì hòa bớt đi 
1. Tâm hỏa sinh Tỳ thổ:
 Tâm chủ huyết, tỳ sinh huyết. Nếu tỳ khí hư không vận hoá được  không đủ dinh dưỡng nuôi tâm phát sinh ra bệnh suy nhược thần kinh thể tâm huyết hư.  Ngược lại lao tâm quá độ hại tỳ, làm cho tỳ hư, ăn kém, tieeuhoas kém.
Chứng trạng tâm tỳ lưỡng hư :  mệt mỏi, uể oải, sắc mặt vàng bợt, rêu lưỡi trắng nhuận. Mất ngủ, hay quên, hồi hộp,, ăn ít, bụng chướng, phân nát, mạch tế, nhược (nhỏ và yếu).  Phép chữa:  bổ tâm ích tỳ. Phương thang :”Quy tỳ thang gia giảm”, là thang rất phổ cập
2. Can mộc sinh tâm hỏa
    Can tàng huyết, tâm chủ huyết : Đêm huyết được trở về " nhà" của mẹ nó , "can tàng huyết" thì huyết được mẹ can bồi dưỡng cho , đồng thời thần được yên ổn. Nếu huyết không về can sinh ra khó ngủ, mộng mị
    Tâm chủ về thần chí, Can chủ sơ tiết: chứng can, tâm âm hư hay can, tâm huyết hư: hoảng hốt, hồi hộp sắc mặt xanh, hoa mắt, chóng mặt, móng tay không nhuận,  mất ngủ hay quên, hôi hộp, sợ hãi, điên giản
3. Thận thủy khắc tâm hỏa 

Tâm hỏa và Thận thủy không khắc chế quá mức mà  giao hòa nhau ( thủy hỏa ký tế) tạo quân bình cho cơ thể. 
Tâm chủ quẻ Ly,  ngoài mạnh, lửa tính bốc lên, càng lên thì càng mất nóng, nếu trong mềm thuận, thì nuôi giữ lửa mới chính bền. 
Thận chủ quẻ Khảm thì mạnh ở trong, tính thủy thì thấm xuống, nếu thông thoát thì hãm lại được cho hoả.  Sự bám víu thuỷ hoả lẫn nhau là nguyên lý thuỷ hoả ký tế.
3. Tâm hỏa khắc phế kim
     Tâm chủ huyết, phế chủ khí. khí thúc đẩy huyết vận hành, huyết đi kéo theo khí. Nếu không có huyết, khí mất chỗ dựa phân tán mà không thu lại được.    Thực nhiệt: ngực bế tắc, đổ mồ hôi trán. Lưỡi khô, họng sưng, suyễn đầy.
       
Hư hàn: tinh thần không yên, đoản hơi. Nói không ra tiếng.

Trên lâm sàng bệnh thường gặp:
- Tâm phế cấp :  tắc mạch máu phổi diện rộng cấp , ứ máu gan và vòng đại tuần hoàn, tăng gánh tim phải, suy tim phải cấp .
- Tâm phế mãn : các bệnh hen mã tính, viêm phế quản mãn, COPD do nghiện thuốc lá kéo dài sẽ có hậu quả suy tim phải.
- Hen tim: do suy tim trái, ứ máu tiểu tuần hoàn tại phổi cản trở các đường dẫn khí ở phổi, khi đến mức độ  áp lực mao mạch phổi tăng quá mức, máu thoát vào phế nang gây cơn hen tim.
  - Phù phổi cấp do ti
  
 4.Tâm và tiểu trường :   
có liên quan biểu lý. Nếu Tâm hỏa vượng, biểu hiện Tâm phiền ,sốt cao,  đầu lưỡi đỏ đau, miệng lở loét, nứt tiểu tiện ít mà đỏ, lại còn đái ít, đái đỏ, nước tiểu nóng , đái ra máu, do nhiệt ở Tâm chuyển sang Tiểu trường .Phương pháp chữa là thanh tâm lợi tiểu.

V. LƯU Ý ỨNG DUNG TRONG CHÂM CỨU

Những vùng trên cơ thể có liên quan đến tạng Tâm:
    Kinh Tâm bào có đi qua những vùng ngực, sườn, hõm nách, dọc bờ trong cánh tay giữa 2 kinh Tâm, Phế và xuống cơ hoành và bụng liên lạc 3 tầng Thượng, Trung, Hạ của Tam tiêu, nên trong bệnh lý Tâm bào có xuất hiện những triệu chứng có liên quan đến mối quan hệ nêu trên.
    Kinh Tâm có đi qua hoành cách mô, Tiểu trường, Phế, cổ họng, thực quản, mắt nên trong bệnh lý tạng Tâm thường xuất hiện những triệu chứng có liên quan đến mối liên hệ trên.
    Quan hệ Tâm - Tiểu trường là quan hệ Biểu- Lý, thông qua sự liên hệ của kinh mạch
    Quan hệ giữa Tâm và Phế là mối quan hệ  cùng ở thượng tiêu, bệnh lý của tạng này sẽ ảnh hưởng tạng kia và ngược lại.

 PHÒNG KHÁM BỆNH ĐÔNG - TÂY Y KẾT HỢP Bác sĩ Mai Đà Nẵng 



CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn